
Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tự Truyện
Chủ đề: chuyện tình hán–tạng
Tác giả: Huy Ca@Zhihu
Chuyển ngữ: Phạm Tuấn Anh

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)

Tôi
tên là Lý Chí Cường, năm nay 32 tuổi. Bốn năm trước, tôi đặt chân
đến Tây Tạng và từ đó đến nay vẫn chưa một lần rời khỏi nơi này.
Không phải vì tôi đến đây để tìm kiếm tín ngưỡng, cũng chẳng phải vì
lưu luyến một ký ức nào đó, càng không phải vì những chuyện nghe có
vẻ màu mè như "gột rửa tâm hồn". Lý do rất đơn giản: tôi yêu một
người phụ nữ.
Cô ấy tên Trác Mã, hiện là vợ tôi, có đăng ký
kết hôn hợp pháp, giấy chứng nhận có con dấu đỏ của Cục Dân chính
Lạp Tát. Chúng tôi đã có một cô con gái. Nhưng sau bốn năm sống ở
Tây Tạng, tôi mới thật sự hiểu một điều: ngoài những nhu cầu sinh
lý, tốt nhất đừng tùy tiện động vào thế giới của một cô gái Tây Tạng
nếu bạn chưa hiểu cô ấy và gia đình cô ấy.
Nghe câu này có vẻ
hơi quá đáng, tôi biết. Nhưng nếu nghe hết câu chuyện của tôi, có lẽ
bạn sẽ hiểu vì sao tôi lại nói như vậy.
Bốn năm trước, tôi
rời Thành Đô để sang Tây Tạng làm giám sát công trình cho một dự án
phụ trợ của tuyến đường sắt Tứ Xuyên – Tây Tạng. Khi ấy mức lương
khá tốt, cộng thêm đủ loại phụ cấp, nên tôi dự định chỉ làm khoảng
hai năm, tiết kiệm một khoản rồi quay về Thành Đô mua nhà.
Lúc đó tôi vẫn độc thân, chưa đến ba mươi tuổi, trong người lúc nào
cũng có cảm giác tràn đầy năng lượng và chẳng nghĩ quá nhiều về
chuyện tương lai.
Ban quản lý dự án nằm ở khu vực ngoại ô Lạp
Tát. Ngay gần đó có một quán trà mang phong cách Tạng. Gọi là quán
trà nhưng thực tế nơi này bán đủ thứ, từ trà bơ, trà ngọt đến rượu
đại mạch và một số món ăn đơn giản của người Tạng.
Bà chủ
quán tên Ương Kim, hơn bốn mươi tuổi, tính tình rất cởi mở, gặp ai
cũng vui vẻ chào "Trát tây đức lặc". Trác Mã là cháu gái của bà,
thỉnh thoảng sang quán phụ giúp.
Tôi vẫn nhớ lần đầu tiên
mình gặp cô ấy là vào tháng Mười một.
Ở Lạp Tát thời điểm ấy,
ban ngày nắng rất gắt, ánh nắng trên cao nguyên khiến da mặt như bị
thiêu đốt, nhưng khi màn đêm buông xuống thì cái lạnh lại thấm tận
xương.
Chiều hôm đó tôi kiếm cớ trốn việc, chạy sang quán
trà. Vừa đẩy cửa bước vào, mùi trà bơ đặc trưng đã lập tức xộc vào
mũi.
Trác Mã đang ngồi phía sau quầy, cúi đầu nghịch điện
thoại. Nghe tiếng cửa mở, cô ấy ngẩng lên nhìn.
Khoảnh khắc
ấy, đầu óc tôi gần như trống rỗng.
Không phải kiểu kinh ngạc
vì trước mặt mình là một mỹ nhân đẹp đến mức khiến người ta choáng
ngợp. Cảm giác ấy giống như bạn bất ngờ nhìn thấy một người mà chẳng
hiểu vì sao, trong khoảnh khắc đó mọi thứ xung quanh đều trở nên mờ
nhạt, chỉ còn người trước mặt là rõ ràng nhất.
Da cô ấy hơi
rám nắng, hai má đỏ hồng vì sống ở vùng cao nguyên. Đôi mắt không
quá lớn nhưng rất sáng, sống mũi cao, môi hơi đầy. Mỗi khi cười, hàm
răng trắng nổi bật trên làn da rám nắng.
Hôm ấy cô mặc một
chiếc áo khoác kiểu Tạng màu đỏ sẫm, mái tóc buộc gọn phía sau, trên
tai đeo hai viên ngọc lục tùng.
– "Uống gì?"
Giọng Phổ
thông của cô hơi pha âm địa phương, nhưng nghe rất dễ chịu.
–
"Trà ngọt," tôi trả lời.
– "Cốc lớn hay cốc nhỏ?"
–
"Cốc lớn."
Cô quay người đi lấy trà. Tôi vô thức nhìn theo và
nhận ra cô khá cao, khoảng hơn một mét sáu một chút, vóc dáng cân
đối đến mức khiến tôi chẳng thể rời mắt.
Cô bưng cốc trà đặt
trước mặt tôi rồi trở lại phía sau quầy.
Tôi uống một ngụm,
nóng đến bỏng lưỡi nhưng vẫn cố làm như không có chuyện gì xảy ra.
Phần lớn thời gian sau đó, tôi chỉ ngồi im và lén nhìn cô.
Trác Mã tiếp tục nghịch điện thoại, thỉnh thoảng lại bật cười vì
không biết đang xem thứ gì. Tôi ngồi ở đó gần một tiếng, uống hết ba
cốc trà ngọt. Lúc đứng dậy rời khỏi quán, cô còn nói với tôi một
câu:
– "Đi thong thả nhé".
Tôi bước ra khỏi cửa, đứng
dưới ánh nắng chói chang mà tim vẫn đập thình thịch. Mẹ kiếp. Tôi
biết mình xong rồi. Từ hôm đó, ngày nào tôi cũng tìm cách ghé quán.
Đám người trong ban quản lý dự án đều nhìn ra chuyện, ai cũng nói
tôi như bị ma nhập. Một ngày tôi chạy sang quán trà còn nhiều hơn số
lần đi vệ sinh.
Ương Kim cũng chẳng phải người ngốc. Một hôm
nhân lúc Trác Mã không có mặt, bà tiến lại gần tôi rồi hỏi thẳng:
– "Có phải cậu thích cháu gái tôi rồi không?"
Mặt tôi lúc
ấy đỏ đến mức chắc chẳng khác gì mông khỉ. Một người đàn ông đã hơn
ba mươi tuổi mà vẫn phải cố chống chế:
– "Không có, không có
đâu, cháu chỉ thích uống trà thôi."
Ương Kim cười nghiêng
ngả.
– "Người Hán các cậu đến nói dối cũng không biết đường
nói."
Bà vỗ vai tôi rồi nói tiếp:
– "Trác Mã chưa có
người yêu đâu, cậu muốn đuổi theo thì đường hoàng mà đuổi, đừng có
ngày nào cũng ngồi đây ngơ ngẩn nhìn người ta."
Tôi bắt đầu
hỏi về hoàn cảnh của Trác Mã.
Ương Kim kể rằng bố mẹ cô đang
sống ở vùng mục trường, còn Trác Mã một mình đến Lạp Tát làm việc.
Bà xem cô như con gái của mình. Nhưng ngay sau đó, Ương Kim lại nhắc
tôi:
– "Tán con gái Tạng là cậu phải suy nghĩ cho kỹ, họ
không giống con gái Hán các cậu đâu."
Tôi tò mò hỏi khác nhau
ở đâu, nhưng bà không giải thích, chỉ cười. Về sau tôi mới hiểu, lúc
ấy bà cười vì biết tôi còn quá ngây thơ, chẳng hề biết phía trước
mình sẽ phải đối mặt với những gì. Tôi bắt đầu theo đuổi Trác Mã
bằng đủ cách mà tôi nghĩ một người đàn ông nên làm. Tặng hoa thì cô
bảo lãng phí tiền. Mời đi ăn thì cô nói ăn ngay ở quán trà là được.
Rủ đi xem phim thì cô từ chối vì đọc phụ đề tiếng Hán không kịp. Tôi
càng theo đuổi càng sốt ruột, cuối cùng đành chạy đi hỏi Ương Kim.
Bà chỉ nói:
– "Cậu đừng dùng cái trò của người Hán các
cậu, cứ chân thành vào, thẳng thắn vào."
Tôi nghĩ thầm, chẳng
phải mình vốn đã rất chân thành rồi sao? Một ngày nọ, tuyết rơi rất
dày. Tuyết ở Lạp Tát khô và nhẹ, rơi xuống mặt đất trông chẳng khác
gì bột mì. Quán trà hôm ấy vắng khách. Trác Mã ngồi cạnh lò sưởi,
cúi đầu dệt pulu, một loại vải được làm từ sợi len theo cách truyền
thống của người Tạng.
Tôi tiến đến gần, hỏi cô đang dệt để
bán hay không, rồi hỏi giá. Sau đó tôi nói mình muốn cô dệt cho một
tấm. Không phải để mua. Tôi muốn cô tặng cho mình. Trác Mã ngẩng
lên, hơi ngạc nhiên rồi mỉm cười hỏi tôi dựa vào đâu mà cô phải
tặng. Tôi không biết lấy đâu ra dũng khí, liền nói thẳng:
–
"Dựa vào việc anh thích em."
Nói xong câu ấy, tim tôi đập
mạnh đến mức tưởng như sắp nhảy ra khỏi lồng ngực. Trác Mã không trả
lời. Cô cúi đầu tiếp tục dệt. Bên cạnh, mấy bánh phân bò khô trong
lò sưởi phát ra tiếng lách tách. Tôi ngồi im, hai lòng bàn tay ướt
đẫm mồ hôi. Khoảng năm phút sau, cô mới ngẩng lên hỏi:
– "Anh
có biết con gái Tạng khác con gái Hán ở điểm nào không?"
Tôi
bảo không biết.
– "Chúng em một khi đã xác định thì sẽ là cả
đời," cô ấy ngẩng đầu nhìn chằm chằm vào tôi:
– "Người Hán
các anh ly hôn dễ dàng như ăn cơm, chúng em thì khác."
Tôi
lập tức khẳng định mình không phải kiểu người tùy tiện. Cô lại cúi
xuống, tiếp tục dệt thêm vài mũi. Sau đó, cô bất ngờ nói:
–
"Thế Tết này anh theo em về nhà, về vùng mục trường gặp bố mẹ em."
Tôi giật mình hỏi có phải quá nhanh không. Cô liếc tôi:
–
"Chẳng phải anh bảo mình không phải người tùy tiện sao?"
Thế
là tôi chẳng còn gì để nói, lập tức đồng ý. Tết năm đó, tôi theo
Trác Mã về nhà cô ở mục trường Na Khúc, nơi nằm ở độ cao khoảng
4,700 mét so với mực nước biển. Tôi suýt nữa không chịu nổi nơi đó.
Nhưng thứ khiến tôi sợ nhất không phải chứng sốc độ cao mà là bố của
Trác Mã.
Ông tên Đan Tăng, đã ngoài năm mươi, cả đời gắn bó
với việc chăn yak. Khuôn mặt ông sạm đen vì nắng gió, đôi bàn tay
chai cứng đến mức trông chẳng khác gì một khối đá. Lần đầu nhìn thấy
tôi, ông không nói gì. Ông chỉ đứng đó nhìn chằm chằm. Tôi ngồi đối
diện mà lưng lạnh toát. Trong khi đó, Trác Mã và mẹ cô vẫn ở bên
cạnh nói chuyện. Mẹ cô rất hiền, lúc nào cũng cười và liên tục rót
trà bơ cho tôi. Tôi uống một ngụm. Vị mặn, hơi béo và có một mùi đặc
trưng mà lúc ấy tôi chưa thể quen được. Nhưng tôi không dám từ chối,
chỉ có thể nhắm mắt uống hết. Cuối cùng Đan Tăng cũng lên tiếng. Ông
hỏi tôi có phải người Hán không, làm nghề gì. Tôi lần lượt trả lời.
Sau khi nghe tôi nói mình làm giám sát công trình, ông gật đầu
rồi lại im lặng. Buổi tối hôm ấy, cả nhà ăn tsampa, thịt yak phơi
khô và uống trà bơ. Tôi ăn không quen nhưng vẫn cố gắng nuốt. Ăn
xong, Đan Tăng đột nhiên bảo tôi đi theo ông ra ngoài. Bên ngoài
nhiệt độ xuống dưới âm hai mươi độ. Gió thổi thẳng vào mặt lạnh buốt
như dao cứa. Ông đưa tôi đến một khoảng đất trống. Sau đó ông rút từ
thắt lưng ra một con dao Tạng. Hai chân tôi lập tức mềm nhũn. Tôi
không biết đây là một nghi thức thử thách hay ông thực sự định xử lý
mình. Đan Tăng đưa con dao có chuôi bằng sừng bò cho tôi, chỉ vào
một tảng đá ở phía xa rồi bảo tôi chém. Tôi bước tới, lấy hết sức
vung dao xuống. Tảng đá chẳng suy suyển. Ngược lại, lưỡi dao bị mẻ
một miếng.
Đan Tăng bước đến lấy lại con dao. Ông nói dao
không thể dùng theo cách đó. Sau đó ông tự mình làm mẫu. Động tác
của ông không hề lớn, nhưng toàn bộ lực dường như tập trung vào đúng
một điểm. Tảng đá lập tức nứt đôi. Ông thu dao lại rồi bình thản
nói:
– "Người Hán các cậu làm việc thích dùng sức mạnh cơ
bắp. Người Tạng chúng tôi coi trọng sự khéo léo. Trác Mã là đứa con
gái duy nhất của tôi, cậu mà đối xử không tốt với nó, lần sau con
dao này chém không phải là đá đâu."
Năm ngày ở mục trường,
tôi học đủ thứ. Từ vắt sữa yak, nhặt phân bò, dệt pulu cho đến uống
rượu đại mạch. Tửu lượng của Đan Tăng khiến tôi thực sự khâm phục.
Tôi cố uống theo ông được ba bát thì gục ngay tại chỗ. Sáng hôm sau
tỉnh dậy, đầu tôi đau như muốn nổ tung. Trác Mã mang cho tôi một bát
canh giải rượu, vừa nhìn tôi vừa cười. Cô bảo bố cô thích tôi, bởi
nếu ông không thích thì ngay cả con dao tôi cũng chẳng có cơ hội
được nhìn thấy.
Ngày tôi rời mục trường, Đan Tăng tiễn tôi ra
tận đầu thôn. Ông nói nhập gia tùy tục, muốn cưới con gái ông thì
phải theo quy tắc sính lễ. Tôi nghe đến đây thì tim lập tức đập
mạnh. Ông nói không cần tiền mà cần ba mươi con yak. Theo giá thị
trường thời điểm đó, số yak này trị giá hơn 300 triệu đồng, trong
khi toàn bộ số tiền tiết kiệm của tôi chỉ hơn 200 triệu. Tôi nghe
xong gần như đứng không vững. Đan Tăng thấy vậy mới nói tôi không
cần đưa ngay, có thể hoàn thành trong vòng ba năm. Trên đường trở về
Lạp Tát, Trác Mã mới bật cười và nói bố cô chỉ cố tình dọa tôi. Thực
tế, sính lễ chỉ cần vài chục triệu hoặc một món đồ có giá trị tương
đương, quan trọng nhất là thể hiện sự thành tâm. Nhưng có một điều
kiện cô nói rất nghiêm túc. Sau khi kết hôn, tôi phải ở Lạp Tát cùng
cô, đồng thời mỗi năm phải trở về mục trường ít nhất một đến hai
tháng. Nếu công việc không cho phép thì cô sẽ không cưới. Tôi và cô
thương lượng hồi lâu. Cuối cùng thống nhất mỗi năm tôi sẽ về mục
trường một tháng.
Đám cưới được tổ chức tại Lạp Tát. Bố mẹ
Trác Mã từ mục trường lên, còn bố mẹ tôi bay từ Thành Đô sang. Hai
bên gia đình ban đầu gần như không thể giao tiếp vì bất đồng ngôn
ngữ, nhưng sau vài chén rượu thì mọi khoảng cách dường như biến mất.
Bố tôi và Đan Tăng nhanh chóng xưng huynh gọi đệ, uống đến mức ôm
nhau khóc. Bố tôi nói nếu tôi đối xử không tốt với Trác Mã thì ông
sẽ đánh gãy chân tôi. Đan Tăng nghe vậy thì vừa khóc vừa nói không
cần bố tôi động tay, ông sẽ tự mình làm.
Đêm tân hôn, Trác Mã
hỏi tôi có hối hận không vì cuộc sống của cô có quá nhiều quy tắc.
Tôi nói mình yêu cô nên những quy tắc đó thế nào tôi cũng chấp nhận.
Trác Mã vòng tay ôm cổ tôi rồi nhắc:
– Người Tạng nói lời giữ
lời, đã bảo cả đời là cả đời, nếu bỏ cuộc giữa chừng thì con dao của
bố cô ấy không phải chuyện đùa.
Năm đầu tiên của hôn nhân gần
như không có biến cố. Chúng tôi sống rất quấn quýt, ngày nào cũng
cảm thấy đối phương là người quan trọng nhất. Trác Mã nghỉ việc ở
quán trà, ở nhà dệt đồ thủ công đem bán và nấu ăn. Tôi đi làm. Tôi
dần ăn được các món Tạng, thậm chí còn uống trà bơ thành quen. Tiếng
Phổ thông của Trác Mã ngày càng tốt, còn tôi cũng học được một vài
câu tiếng Tạng.
Những rắc rối thực sự bắt đầu từ năm thứ hai,
khi Trác Mã mang thai. Tôi vui mừng gọi điện báo cho bố mẹ. Mẹ tôi
lập tức muốn sang Lạp Tát chăm sóc con dâu, nhưng Trác Mã nói mẹ cô
sẽ lên. Mẹ vợ đến, mang theo đủ thứ từ mục trường: trà bơ, tsampa,
thịt phơi khô, và thuốc nam. Từ ngày bà đến, tôi gần như biến thành
người ngoài trong chính căn nhà của mình. Hai mẹ con ngày nào cũng
nói chuyện bằng tiếng Tạng. Tôi ngồi bên cạnh, nghe mà chẳng hiểu
được câu nào.
Ngày con gái chúng tôi chào đời, bố mẹ tôi rất
vui, chỉ có chút tiếc nuối vì cháu đầu lòng không phải con trai.
Trong khi đó, bố mẹ Trác Mã lại vui mừng vô cùng. Đan Tăng từ mục
trường lên Lạp Tát, ôm cháu gái suốt nửa ngày không chịu buông. Ông
còn nghiêm túc cảnh cáo tôi tuyệt đối không được chê con gái. Sau
khi đứa trẻ ra đời, khác biệt giữa hai gia đình bắt đầu bộc lộ rõ
rệt. Mẹ tôi muốn chăm con dâu theo những tập tục quen thuộc của
người Hán: hạn chế tắm gội, không ra ngoài và phải kiêng kỵ đủ thứ.
Mẹ Trác Mã lại muốn giữ cách sinh hoạt của người Tạng, uống trà bơ,
ăn tsampa, và sinh hoạt gần như bình thường.
Trác Mã đứng
giữa hai bên để dung hòa. Cuối cùng cô quyết định vẫn tắm gội bình
thường nhưng hạn chế ra ngoài, đồ ăn thì kết hợp cả trà bơ lẫn canh
gà. Đến chuyện chăm con cũng xảy ra tranh luận. Mẹ tôi muốn nuôi con
theo giờ giấc, còn mẹ vợ lại cho rằng trẻ con nên thuận theo tự
nhiên.
Lần này Trác Mã đứng về phía mẹ mình. Cô cho rằng trẻ
con Tây Tạng có khả năng thích nghi tốt, không cần lúc nào cũng được
bao bọc quá kỹ. Sau khi hết tháng ở cữ, mẹ tôi trở về Thành Đô trong
tâm trạng vừa thương con vừa lo lắng rằng tôi sẽ phải chịu nhiều ấm
ức. Khi con gái được hơn một tuổi, Trác Mã đề nghị đưa con về mục
trường sống một tháng. Tôi lập tức phản đối.
Tôi lo điều kiện
sinh hoạt thiếu thốn ở đó sẽ ảnh hưởng đến con. Hai vợ chồng tranh
cãi khá lâu. Cuối cùng chúng tôi thống nhất tôi xin nghỉ nửa tháng
để đi cùng hai mẹ con, sau đó Trác Mã sẽ ở lại thêm nửa tháng. Lần
trở về mục trường ấy, Đan Tăng nhìn tôi bằng ánh mắt có phần thất
vọng. Ông uống rượu với tôi rồi trách rằng tôi luôn coi mục trường
là nơi nghèo khó, thiếu thốn, và chỉ muốn tránh xa nó. Ông nói người
Hán lúc nào cũng có thể lấy lý do công việc bận rộn để bỏ quên gia
đình. Sau đó ông nói với tôi rằng Trác Mã lấy tôi nhưng không có
nghĩa cô phải cắt đứt với nơi mình sinh ra. Gốc rễ của cô vẫn ở đây.
Và nếu tôi cưới cô, tôi phải chấp nhận cả gốc rễ ấy. Đêm đó tôi gần
như không ngủ.
Lần đầu tiên tôi nhận ra suốt thời gian qua
mình chỉ đang cố gắng chịu đựng để hòa nhập, chứ chưa thật sự hiểu
và chấp nhận thế giới của Trác Mã. Sang năm thứ ba, em trai Trác Mã
là Thứ Nhân từ mục trường lên Lạp Tát tìm việc. Cậu ấy ở lại nhà
chúng tôi. Vì không giỏi tiếng Hán nên Thứ Nhân rất khó tìm việc.
Phần lớn thời gian cậu chỉ nằm ở nhà nghịch điện thoại. Tôi bắt đầu
cảm thấy khó chịu. Tôi nhiều lần nói Trác Mã nên thúc giục em trai
đi tìm việc, nhưng cô luôn tìm cách bênh vực. Một lần trong lúc
tranh cãi, tôi không kiềm chế được và nói rằng cô đang lấy tiền của
tôi để nuôi em trai. Sắc mặt Trác Mã lập tức thay đổi. Cô đóng sầm
cửa phòng. Sau đó cô nói với tôi một câu mà đến tận bây giờ tôi vẫn
nhớ:
– "Người Tạng chúng em, người nhà là người nhà, không vì
vài bữa cơm hay vài ngày ở mà coi là gánh nặng."
Sau đó Thứ
Nhân cũng tìm được việc ở khu vực phố Bát Khuếch và chuyển ra ngoài.
Nhưng trước khi rời đi, ánh mắt cậu nhìn tôi khiến tôi cảm thấy một
khoảng cách vô hình. Nó giống như ánh mắt nói rằng tôi không phải
người cùng hội với họ. Tôi đau lòng nhận ra rằng suốt ba năm qua,
mình chỉ đang cố gắng "diễn" việc hòa nhập. Bản chất tôi vẫn luôn
cho rằng cách sống của người Hán mới là tiêu chuẩn đúng đắn.
Mọi thứ thay đổi vào năm thứ tư.
Đan Tăng bất ngờ bị phù phổi
cấp và phải được đưa gấp xuống Lạp Tát cấp cứu. Nhìn người bố vợ vốn
luôn khỏe mạnh nằm trên giường bệnh, sắc mặt xám xịt, tôi thực sự
hoảng sợ. Tôi ở bệnh viện chăm sóc ông suốt nhiều ngày.
Có một
lần Đan Tăng nắm lấy tay tôi và nói nếu ông có chuyện gì thì tôi
phải biết nhường nhịn Trác Mã. Ông cũng chính thức xóa bỏ chuyện ba
mươi con yak năm nào. Ông giải thích rằng khi ấy ông đưa ra số sính
lễ lớn như vậy chỉ để tôi hiểu rằng cưới con gái ông là chuyện cần
được trân trọng, chứ chưa bao giờ thật sự muốn lấy của tôi nhiều
tiền. Sau đó ông dặn:
– "Người Tạng chúng tôi nói lời giữ
lời, đã hứa cả đời thì thiếu một ngày cũng không tính."
Tôi ở
bên ông nửa tháng, gần như túc trực suốt thời gian ông điều trị.
Cuối cùng Đan Tăng cũng vượt qua được nguy hiểm. Mẹ vợ khi ấy xúc
động kể với tôi rằng năm xưa bà đồng ý để Trác Mã cưới tôi vì nhận
ra ánh mắt tôi nhìn con gái bà không có sự tính toán. Theo bà, người
Tạng coi trọng cái tâm hơn tiền bạc hay địa vị. Tôi tưởng như vậy là
mình đã trải qua biến cố lớn nhất. Nhưng cuối năm thứ tư, mẹ ruột
tôi ở Thành Đô lại được chẩn đoán mắc ung thư trực tràng giai đoạn
giữa. Ngay khi nghe tin, Trác Mã lập tức thu xếp đồ đạc. Cô quyết
định đưa con gái cùng tôi về Thành Đô. Tôi lo cô sẽ vất vả, nhưng cô
chỉ nói rất kiên quyết:
– "Đấy là mẹ chồng em, mẹ bị bệnh em
bắt buộc phải đi."
Trong thời gian mẹ tôi phẫu thuật và hóa
trị tại bệnh viện Hoa Tây, Trác Mã ngày nào cũng chăm sóc bà. Cô nấu
cháo đại mạch với sữa yak, lo từng bữa ăn và từng việc nhỏ. Mẹ tôi
vốn từng có định kiến, từng lo rằng con dâu người Tạng sẽ khó hòa
hợp với gia đình, cuối cùng lại bật khóc. Bà nói lời xin lỗi vì
những suy nghĩ trước đây.
Trác Mã chỉ nắm lấy tay mẹ tôi rồi
nói:
– "Chúng ta là người một nhà."
Nhìn hai người phụ
nữ quan trọng nhất trong đời mình ngồi cạnh nhau, tôi gần như thức
trắng đêm. Tôi bắt đầu nhìn lại bốn năm hôn nhân. Trác Mã đã nhượng
bộ rất nhiều. Cô đã cố gắng bước vào cuộc sống của tôi, chăm sóc mẹ
tôi, thích nghi với gia đình tôi, và chấp nhận rất nhiều điều vốn
không thuộc về thế giới của cô. Còn tôi lại luôn cho rằng mình mới
là người đang hy sinh. Đến lúc ấy tôi mới hiểu, hòa nhập thực sự
không phải là học vài câu tiếng Tạng, biết thêm vài lễ hội hay ăn
được món ăn của người khác. Hòa nhập là phải bỏ xuống sự tự cao của
bản thân, thừa nhận rằng lối sống của người khác cũng có giá trị và
lý do tồn tại riêng.
Sau khi mẹ tôi xuất viện, tôi trở lại
Lạp Tát. Lần này, tôi chủ động xin nghỉ một tháng để đưa Trác Mã về
mục trường. Không phàn nàn. Không viện cớ công việc. Cũng không còn
cảm thấy đó là một nghĩa vụ phải hoàn thành. Tại mục trường, Đan
Tăng đã khỏe lại. Ông ôm cháu gái đi khắp nơi khoe với mọi người.
Buổi tối, cả gia đình quây quần trong lều, uống rượu đại mạch.
Đan Tăng nhìn tôi rồi mỉm cười.
– "Cậu thay đổi rồi.
Trước đây cậu ngồi ở đây như một người khách, còn bây giờ cậu ngồi ở
đây như người trong nhà."
Nghe câu ấy, tôi gần như không kìm
được nước mắt. Đêm hôm đó, dưới bầu trời đầy sao của cao nguyên,
Trác Mã kể cho tôi nghe vì sao người Tạng coi trọng lời hứa đến như
vậy. Ở một vùng đất khắc nghiệt, nơi con người có thể phải dựa vào
nhau để vượt qua những thời điểm sinh tử, một lời hứa bị phá vỡ
trong lúc hoạn nạn đôi khi đồng nghĩa với việc đẩy người khác vào
đường cùng. Tôi ôm lấy Trác Mã. Lúc ấy tôi mới thực sự hiểu.
Trước khi chúng tôi rời mục trường, Đan Tăng đưa cho tôi con dao
Tạng đã theo ông suốt ba mươi năm. Ông bảo tôi giữ lấy nó. Nhưng lần
này, nó không còn là lời cảnh cáo như ngày đầu tôi đến nhà ông. Nó
là lời nhắc nhở rằng từ khi cưới Trác Mã, tôi đã có trách nhiệm bảo
vệ vợ con và cũng phải nhớ rằng con gái mình luôn có một nơi để trở
về. Ông dặn tôi phải đưa cháu gái về thăm quê, để con bé không quên
nguồn cội.
Trở lại Lạp Tát, tôi không còn nghĩ đến chuyện
quay về Thành Đô sinh sống nữa. Bốn năm đã đủ dài để tôi quen với
nhịp sống chậm rãi của nơi này, quen với con người, với khí hậu, với
những món ăn từng khiến tôi không thể nuốt nổi, với trà bơ mà ngày
trước tôi chỉ uống vì muốn ngắm một cô gái.
Nhưng quan trọng
hơn, Tây Tạng khiến tôi hiểu thế nào là trách nhiệm. Một ngày nọ,
Ương Kim ở quán trà hỏi tôi sau bốn năm có từng hối hận không. Tôi
chỉ mỉm cười. Tôi không hối hận. Bởi Trác Mã và vùng đất này đã
khiến tôi trưởng thành theo cách mà có lẽ nếu cứ sống ở Thành Đô,
tôi sẽ chẳng bao giờ hiểu được.
Đêm xuống, tôi ngồi trên ban
công nhìn Cung điện Potala sáng rực trong màn đêm. Trác Mã ngồi bên
cạnh. Tôi nắm lấy bàn tay em. Bốn năm trước, tôi đến Tây Tạng chỉ vì
một cô gái. Bốn năm sau, cô gái ấy trở thành vợ tôi, mẹ của con tôi,
và là cầu nối đưa tôi bước vào một thế giới hoàn toàn khác.
Kiếp này hay kiếp sau, dù có phải đền bao nhiêu con yak đi nữa, Trác
Mã vẫn sẽ là người quan trọng nhất trong cuộc đời tôi.
Biên tập lại từ bản dịch của Pham Tuan Anh
(scr: Huy Ca @ Zhihu)

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)


thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by psxh chuyển.
Đăng ngày thứ Sáu, August 14, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH