

Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tùy bút
Chủ đề: luật trời luật người
Tác giả: Trần Xuân Thời

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
Thiên
luật thể hiện qua các ý niệm và nguyên tắc bảo vệ công lý, nhân
quyền, cần thiết để bảo tồn sinh mạng của nhân loại. Nhân luật để
duy trì an ninh, trật tự.
"Natural law teaches us the
necessity of self–preservation. Law and government are required if
we are to protect order and security".
Với người có đức
tin, không cần giải thích. Với người không có đức tin, không thể
giải thích được. Chúng ta phải yêu mến cả hai, những người có cùng
quan điểm với chúng ta và những người không có cùng quan điểm với
chúng ta, vì cả hai đều đã lao lực đi tìm kiếm sự thực, và cả hai
đều đã giúp chúng ta tìm ra chân lý đó.
"To one who has faith, no
explanation is necessary. To one without faith, no explanation is
possible. We must love them both, those whose opinions we share and
those whose opinions we reject, for both have labored in the search
for truth, and both have helped us in finding it". [St. Thomas
Aquinas 1225–1274]
Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu,
chúng ta thử xem nhân loại chung sống với tâm tưởng về hai năng lực:
Thần quyền và Thế quyền như thế nào.
I. Thiên Luật (natural
law):
1. Thần quyền và Thiên luật hiện hữu để duy trì trật tự
luân lý của vũ trụ (moral order of the universe), sự trường tồn của
nhân thế và những gì tốt đẹp nhất cho nhân loại. "Natural law
teaches us the necessity of self – preservation and promotes what is
really good for human persons".
Thế quyền và Nhân luật để duy
trì an ninh trật tự cho cộng đồng chung sống giữa người với người
trên hai bình diện tình và lý.
2. Ý tưởng về trật tự đạo đức
trong vũ trụ (moral order of the universe) là ý tưởng vũ trụ được
sắp xếp bởi một đấng có quyền năng với những cảm xúc vô hình về điều
thiện và điều ác, hay một thế lực đạo đức. Trật tự này có thể thúc
đẩy hành động và có hậu quả đối với cá nhân thế và tha nhân. Một số
người nói rằng trật tự đạo đức cũng tồn tại như các định luật vật
lý, chẳng hạn như trọng lực, và quy luật này không thể bị vi phạm mà
không có hậu quả. "The idea of a moral order in the universe is the
idea that the universe is ordered by a higher power, invisible
feelings of good and bad, or a moral force. This order can motivate
actions and have consequences for individuals and others. Some say
that the moral order is as abiding as physical laws, such as
gravity, and that it cannot be disobeyed without consequences".
[Principia]
3. Từ thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, Nhân luật
của Hy Lạp chịu ảnh hưởng của Thiên luật, còn gọi là luật Định mệnh
chi phối toàn diện sinh hoạt của con người. "The power of fate that
controls everything." Thế thượng thường tình, Nguyễn Du tiên sinh,
sau khi thể hiện tư tưởng Nho, Thích, Lão về thân phận của nhân vật
Thuý Kiều, đã tóm lược: "Chung cục thì chỉ cũng tại Trời"! hay
"Gẫm thay muôn sự tại Trời.
Trời kia đã bắt làm người có
thân.
Bắt phong trần phải phong trần.
Cho thanh cao mới được
phần thanh cao."
Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên, trong nhạc phẩm
"Trăng Mờ Bên Suối" cũng đã liên tưởng đến Cao xanh:
"Một
ngày xa nhau xóa bao hình bóng.
Trời bày chia ly chi cho lòng
héo?"
4. Thiên luật vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên tương
đồng với luật hợp với lý trí, những luật không hợp lý trí được xem
như vô hiệu. "Law did not conform to reason may be regarded as
invalid." Sau đó, Thiên luật đã được Marcus Tullius Cicero, Luật
gia, Thượng nghị sĩ La Mã, triều đại Hoàng Đế Caesar, sinh năm 106
và qua đời năm 43 trước Công nguyên, minh đinh Thiên luật (natural
law) gồm các đặc điểm:
"Thiên luật hợp với lẽ phải Tự nhiên:
Thiên luật có tính ứng dụng phổ quát, không thay đổi và có tính cách
vĩnh viễn. Việc cố gắng thay đổi luật này là tội lỗi, cũng không
được phép cố gắng kháng cáo bất kỳ phần nào trong đó và không thể
bãi bỏ nó hoàn toàn. Thượng Đế là tác giả của luật này, Người ban
hành và là phán quan giám định sự thi hành luật". "True law is right
in agreement with Nature: It is of universal application, unchanging
and everlasting... It is a sin to try to alter this law, nor is it
allowable to attempt to repeal any part of it, and it is impossible
to abolish it entirely... God is the author of this law, its
promulgator, and its enforcing judge."
5. Thánh Augustine
(354–430), sau Công nguyên, quan niệm quốc gia mà không có công lý
không phải là một quốc gia, mà chỉ là những nhóm gian nhân hợp đảng.
"What are states without justice, but robber bands enlarged". Nhận
xét này ứng nghiệm với các xã hội do cộng sản cầm quyền hiện nay như
Trung cộng, Việt cộng, Hàn cộng, Lào cộng, và Cuba.
6. Về
phương diện xã ước (social contract), chính quyền phải thể hiện ý
chí chung của nhân dân qua các cuộc bầu cử tự do, chứ không thể áp
dụng luật lệ trái với nguyện vọng của nhân dân, hay yêu điều dân
ghét và ghét điều dân yêu. "Only with his consent be he subject to
the political power of another."
Điều 1 bản Tuyên Ngôn Quốc
Tế Nhân Quyền được Liên Hiệp Quốc ban hành năm 1948 đã ấn định: "Mọi
người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về phẩm giá và quyền lợi.
Họ được Tạo hóa ban cho lý trí và lương tâm và phải đối xử với nhau
trong tinh thần huynh đệ". "All human beings are born free and equal
in dignity and rights. They are endowed with reason and conscience
and should act towards one another in a spirit of brotherhood".
7. Thiên luật là công lý, ý hướng mà Tạo hóa ban cho nhân loại
nhằm mục đích hướng đạo nhân thế sống theo nguyên tắc lương thiện,
không gây tác hại cho người khác và tôn trọng quyền lợi của mỗi
người. "Justice is to live honestly, not to injure others and to
give everyone his due". Tôn trọng quyền lợi của nhân thế là nguyên
tắc chung hướng dẫn sự hình thành luật lệ của các bộ lạc, các quốc
gia từ cổ chí kim.
Luật La Mã, nhất là bộ luật canh cải
"Corpus Juris Civilis" từ thời Hoàng Đế Justinian (482–565), vẫn
được đề cập đến mỗi khi bàn về cổ luật. "It is a vital pillar of
modern law in many European nations, and influential in other
countries", với lời mở đầu: "Chúng tôi đã quyết định, với ơn trợ
giúp của Thiên Chúa, thực hiện một món quà, vì lợi ích chung, những
gì mà nhiều vị hoàng đế trong quá khứ cho là cần được cải thiện,
nhưng không ai trong số họ, trong thời gian đó, dám thực hiện". "We
have determined, with the help of God, now to make a present, for
the common good, of what appeared to many past emperors to require
improvement, but which none of them, in the meantime, ventured to
put into effect".
8. Luật Anh quốc nhận lãnh thẩm quyền từ
Thiên luật. "English law derives its authority from natural law".
(Sir William Blackstone (1723–1780). Công pháp quốc tế đặt căn bản
trên Thiên luật. "Public international law is purported to be
founded on natural law" (Hugo de Groot (1583–1645).
Bản Tuyên
Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, (Universal Declaration of Human Rights) do
Liên Hiệp Quốc ban hành năm 1948, được hơn 190 quốc gia công nhận,
cũng được soạn thảo đặt căn bản trên Thiên luật. Vì chỉ có viện dẫn
Thiên luật mới có ảnh hưởng thuyết phục một cách khách quan đến mọi
người.
Phúc cho những quốc gia hưởng ứng ý niệm "Thuận Thiên
giả tồn". Vấn đề đặt ra không phải chứng minh Thiên mệnh, vì Thiên
mệnh không phải là vật chất nên không thể áp dụng phương pháp thực
nghiệm, nhưng là cảm nghiệm thiêng liêng nên, tin hay không, là tùy
nhiệm ý của mỗi người. Những người mà Triết hoc ngày nay gọi là "bất
khả tri luận" (Agnosticism), không có ý kiến vì không biết có Thiên
mệnh hay không. Đối với cộng đồng quốc tế, Thiên mệnh vẫn âm thầm
điều hướng đời sống của nhân loại như bóng vói hình, vì thế trên 190
quốc gia đã đồng tâm nhất chí "tôn trọng nhân quyền" để duy trì tinh
thần dân chủ, duy trì sự trường tồn của nhân loại chống lại những
thế lực âm mưu diệt chủng như chủ nghĩa cộng sản đã sát hại hàng
trăm triệu sinh linh trong suốt 80 năm qua.
9. Nhân thế đã
viện dẫn Thiên luật qua hình thức bảo vệ "Dân quyền và Nhân quyền"
làm nguyên động lực, đối kháng với các chính quyền độc tài như cuộc
cách mạng Pháp, với bản tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền
"Déclaration des droits de l'homme et du citoyen" ngày 26 tháng 8
năm 1789. Đặc biệt, trước đó, cuộc cách mạng tại Hoa Kỳ, nhằm tranh
đấu cho nhân quyền là quyền tự nhiên mà Tạo hóa đã ban cho nhân loại
được tuyên xưng trọng thể trong lời mở đầu của bản Tuyên Ngôn Độc
Lập. "Declaration of Independence of 1776", ngày 4 tháng 7 năm 1776.
"Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh
ra đều bình đẳng, rằng Tạo hóa đã ban cho họ những Quyền tất yếu và
bất khả xâm phạm, rằng trong đó có quyền sống, quyền được Tự do, và
mưu cầu Hạnh phúc – Rằng để bảo đảm cho những quyền lợi này, các
Chính phủ được lập ra trong Nhân dân và có được những quyền lực
chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của nhân dân – Rằng bất cứ khi nào
một Thể chế Chính quyền nào đó phá vỡ những mục tiêu này, thì Nhân
dân có Quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó và lập nên một
chính quyền mới, đặt trên nền tảng những nguyên tắc cũng như tổ chức
thực thi quyền hành theo một thể chế sao cho có hiệu quả tốt nhất
đối với an ninh và hạnh phúc của họ". "We hold these truths to be
self–evident, that all men are created equal, that they are endowed
by their Creator with certain unalienable Rights, that among these
are Life, Liberty and the pursuit of Happiness.—That to secure these
rights, Governments are instituted among Men, deriving their just
powers from the consent of the governed,—That whenever any Form of
Government becomes destructive of these ends, it is the Right of the
People to alter or to abolish it, and to institute new Government,
laying its foundation on such principles and organizing its powers
in such form, as to them shall seem most likely to effect their
Safety and Happiness".
10. Ý niệm về trật tự đạo đức trong vũ
trụ (moral order of the universe) là một ý niệm siêu hình phát xuất
từ cảm nghiệm được sự tương tác giữa nhân thế và sư vận hành của vũ
trụ. Từ cổ chí kim, đa số nhân thế tin tưởng rằng "Vũ trụ được sắp
xếp bởi Thần quyền, một vị có quyền năng, có những cảm xúc vô hình
về điều thiện và điều ác, hay một thế lực đạo đức. Trật tự này có
thể thúc đẩy hành động có hậu quả đối với cá nhân và tập thể. Một số
người nói rằng trật tự đạo đức cũng tồn tại như các định luật vật
lý, chẳng hạn như trọng lực, và quy luật này không thể bị vi phạm mà
không có hậu quả".
11. Cũng đồng cảm nghiệm với nhân thế, ca
dao, tục ngữ Việt Nam cũng thể hiện niềm tin vào Đấng Tạo Hóa trong
dân gian:
"Lạy Trời mưa xuống,
lấy nước tôi uống,
lấy
ruộng tôi cày,
lấy bát cơm đầy,
lấy khúc cá to."
Văn
chương bác học cũng không thiếu những văn bản liên quan đến sự công
chính của Tạo Hóa:
"Trời nào phụ kẻ trung trinh.
Dẫu vương
nạn ấy,
ắt dành phúc kia".
Thế giới thần quyền, đối với
những ai không thấy mà tin, đã đánh động lòng người, ảnh hưởng sâu
đậm trong dân gian. Cán bộ cộng sản hùng hổ tự xưng là "đỉnh cao trí
tuệ" dần dần tàn lụi từ tình trạng chiếm lãnh gần một nửa thế giới
từ thập niên 1950, đến thập niên 1990 Liên Bang Nga Xô sụp đổ, chỉ
còn lại vỏn vẹn bốn mảnh đất vì độc tài, đảng trị, nên trở thành cằn
cỗi như Trung cộng, Hàn cộng, Việt cộng, và Cuba.
12. Sau thế
chiến thứ hai, bốn quốc gia Mỹ, Anh, Pháp, Nga lập tòa án hình sự
quốc tế tại Nuremberg từ 20/11/1945 đến 01/10/1946, và sau đó tại
Tokyo, xét xử tội ác "chống hòa bình, gây chiến tranh, chống nhân
loại" của các viên chức dân chính và quân sự Phát Xít Đức và Nhật.
Khối Trục Đức–Nhật, "con nhái muốn to bằng con bò", không biết lượng
sức mình nên hùng hổ "Dọc ngang, nào biết trên đầu có ai", đã gây
chiến tranh tang tóc để thỏa mãn tham vọng làm bá chủ thế giới.
13. Cái khó cho Tòa án Quân sự là đến đầu thế kỷ thứ 20, vấn đề
bang giao quốc tế, qua các công ước 1899 và 1907, chỉ quy định các
vấn đề liên quan đến chủ quyền quốc gia (state sovereignty), chưa có
luật nào minh định vấn đề trừng trị các quốc gia gây chiến. Nghĩa là
không có quy ước và cũng không có tiền lệ (precedent) để áp dụng.
"On the eve of the twentieth century attempts to regulate warfare in
The Hague Conference of 1899, and again in 1907, were constrained by
notions of State sovereignty. As the Nuremberg judges pointed out in
1946, The Hague Convention nowhere designates such practices
[methods of waging war] as criminal, nor is any sentence prescribed,
nor any mention made of a court to try and punish offenders."
14. "Túng tắc biến, biến tắc thông". Vì lý do Nhân luật không
hẳn là yếu tố duy nhất để phân định đúng, sai. "The positive law is
not necessarily the sole determinant of what is right", nên Tòa án
Nuremberg đã âm thầm áp dụng Thiên luật qua nguyên tắc đạo lý do Đức
Giáo Hoàng Gregory the Great (540–604) minh định trong Tông huấn
Moralia "by nature all men are born free and equal" một cách hợp
tình, hợp lý. Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng. Quyền
làm người (human rights) phải được bảo vệ là nguyên tắc có giá trị
tinh thần, đạo đức, luân lý xã hội, "kinh thiên, địa nghĩa", mà Tòa
án Nuremberg đã áp dụng để bảo vệ sự trường tồn của nhân loại. Luật
lệ và đạo lý như bóng với hình "law and morals are inexplicably
interwined", không thể để cho những kẻ vô đạo ỷ quyền cậy thế, thảm
sát các lân bang mà không có biện pháp ngăn ngừa hay trừng trị.
15. Các phiên tòa tại Nuremberg đã xác định rằng nhân loại sẽ
được bảo vệ bởi một lá chắn pháp lý quốc tế và ngay cả một Nguyên
thủ quốc gia cũng sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự và bị trừng phạt
về các hành vi gây hấn và tội ác chống lại loài người. "The
Nuremberg trials established that all of humanity would be guarded
by an international legal shield and that even a Head of State would
be held criminally responsible and punished for aggression and
Crimes Against Humanity."
16. Trong trường hợp gặp các vụ án
khó giải quyết "hard cases", vị chánh thẩm, ngoài việc áp dụng những
điều khoản do luật định, thường áp dụng các nguyên tắc (principle)
thích ứng để bổ khuyết sự bế tắc giữa tình và lý, sự thiếu dự trù
hay vắng bóng của luật lệ để giải quyết thỏa đáng vấn nạn.
Ví
dụ: Trong vụ án "Riggs v. Palmer", năm 1899 tại New York, "Ông lập
di chúc cho cháu. Cháu nóng lòng, giết ông để hưởng tài sản". Chiếu
luật thừa kế thì cháu được hưởng gia sản sau khi ông qua đời. Nhưng
quan tòa đã tuyên án can phạm tội sát nhân và bác bỏ quyền hưởng thụ
tài sản, viện dẫn nguyên tắc không ai có quyền thụ hưởng lợi ích từ
tội phạm do chính đương sự gây ra "No person should profit from his
own wrong", tương hợp với ý kiến của Dworkin "In addition to rules,
the law includes principles".
17. Từ phán quyết của Tòa Án
Quân Sự Nuremberg năm 1946, ngày 10 tháng 12 năm 1948, Liên Hợp Quốc
đã ban hành bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (Universal Declaration
of Human Rights) là văn bản pháp lý phổ quát quốc tế đầu tiên công
nhận các "nhân quyền" cho nhân loại có tính cách ràng buộc như khái
niệm nhân quyền mà thế giới công nhận hiện nay.
18. Tòa án
Nuremberg lần đầu tiên, trong luật pháp quốc tế, đã phân biệt rõ
ràng Cá nhân có hành động vi phạm luật quốc tế, dù đương sự là Quốc
trưởng hay Viên chức chính phủ, nếu vi phạm, đều phải chịu trách
nhiệm theo luật quốc tế: "The fact that a person who committed an
act which constitutes a crime under international law acted as Head
of State or responsible Government official does not relieve him
from responsibility under international law".
19. Kết quả Tòa
án quân sự Quốc tế Nuremberg: Ngoài lãnh tụ Adolf Hitler và một viên
chức cao cấp khác đã tự sát trước phiên toà, 12 phạm nhân bị treo
cổ, 3 phạm nhân bị án tù chung thân, 4 phạm nhân từ 10 đến 20 năm
tù, và 3 bị can được tha bổng. Toà án quân sự quốc tế tại Tokyo,
Nhật bản, đã treo cổ 7 can phạm và 16 can phạm bị phạt tù chung
thân. Tập Cận Bình nên lấy đó làm gương! Thế Chiến thứ II
(1939–1945) đã sát hại hơn 60 triệu nhân mạng do phe trục Đức và
Nhật gây hấn. Toà Án Quân Sự Nuremberg năm 1946, trừng trị thích
đáng những kẻ sát nhân, đã tạo tiền lệ (precedent) cho các vụ án
diệt chủng, tội ác chống lại hoà bình, tội ác gây chiến tranh chống
lại nhân loại sau này.
20. Như đã thượng dẫn, nhân quyền là
quyền tự nhiên do Tạo hóa đã ban cho nhân loại. Vi phạm nhân quyền
là vi phạm Thiên luật... Thiên luật hiện hữu để bảo vệ trật tự luân
lý của vũ trụ và cần thiết để duy trì sự trường tồn của nhân loại và
nhân luật cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự... "The natural law
teaches us the necessity of self–preservation, man–made law is
required if we are to protect order and security" (Thomas Hobbes,
1588–1679).
21. Toà Án Quân Sự Nuremberg năm (1945–1946),
trừng trị thích đáng những kẻ sát nhân, đã tạo tiền lệ (precedent)
cho các vụ án diệt chủng, tội ác chống lại hoà bình, tội ác gây
chiến tranh, chống lại nhân loại sau này. Cộng sản Hà Nội, sợ bị đưa
ra Tòa án hình sự quốc tế về vụ thảm sát hơn 7000 người vô tội tại
Huế trong Tết Mậu Thân năm 1968, đã tuyên truyền với du khách quốc
tế thăm Việt Nam là nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội không liên hệ gì
đến vụ thảm sát. Tuy nhiên, tội diệt chủng không bị thời tiêu
(statute of limitations) nên chúng ta sẽ truy tố CSHN ra trước tòa
hình sự quốc tế khi thuận tiện. Phi Luật Tân là một quốc gia thành
viên của LHQ, hợp lệ về thủ tục tố tụng mà phải chi ra 30 triệu Mỹ
Kim để khiếu nại Trung cộng vi phạm luật biển năm 1982, truy tố về
hình sự còn phức tạp hơn nhiều.
22. Dân quyền là quyền làm
người được Tạo hóa ban cho nhân loại. Trên 190 quốc gia tự do muốn
xây dựng phúc lợi chung nên cổ súy sự tôn trọng nhân quyền. Chế độc
tài cộng sản Hà nội, phủ nhận nhân quyền, chủ trương "Cứu cánh biện
minh cho phương tiện" miễn là chiếm được Miền Nam để dâng cho cộng
sản quốc tế, CS Hà nội dù có đốt hết rặng núi Trường Sơn và hy sinh
đến người Việt cuối cùng, chúng vẫn thực hiện dã tâm thôn tính Miền
Nam Việt Nam năm 1975.
Tuy nhiên, thiên hạ nói đúng "Ông Trời
có mắt". Từ thập niên 1950 cộng sản quốc tế đã chiếm gần ½ thế giới,
đến đầu thập niên 1990, chỉ còn lại 4 nước Trung cộng, Việt cộng,
Hàn cộng, và Cuba theo chủ nghĩa cộng sản và đang đi dần đến chỗ
triệt tiêu.
23. "Bần cùng sinh đạo tặc". Trung cộng thì bị
thế giới lên án ăn cắp tài sản trí tuệ của các nước văn minh. Ba
nước còn lại thì luôn cử phái đoàn đi tha phương cầu thực tại các
quốc gia tự do. Đó là cái giá cho những kẻ mù lòa, không tôn trọng
Nhân quyền mà Tạo hóa đã ban cho nhân loại, ứng nghiệm với câu sấm
truyền của vị Vạn Thế Sư Biểu "Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả
vong" – Thuận Thiên thì sống, chống Thiên thi chết!
24. Chúng
ta hãy cầu nguyện ơn Trên ban cho Trung cộng, Việt cộng, Hàn cộng,
và Cuba can đảm từ bỏ chủ nghĩa cộng sản và trở về với chính nghĩa
quốc gia, như trước đây thế giới tự do đã cầu cho nước Nga thoát ly
chủ nghĩa cộng sản và đã thành công. "Lấy nhân nghĩa thắng hung tàn.
Đem chí nhân thay cường bạo".
25. Thật ra, Chủ nghĩa cộng sản
chỉ là biện pháp tạm thời hay là phương tiện cảnh tỉnh giới chủ nhân
công nghiệp vào thời phát triển kỹ nghệ thế kỷ thứ 18. Trong suốt
100 năm sau ngày ban hành bản Tuyên Ngôn Cộng sản Quốc Tế
(1848–1948), phong trào CSQT đã bành trướng qua các liên minh
(Communist Comintern): Phong trào Đệ nhất (1864–1876), Đệ nhị
(1889–1918), Đệ tam (1919–1943), và Đệ tứ Quốc Tế (1938–1953). Chủ
nghĩa cộng sản quốc tế thất bại vì chủ trương không tưởng "châu chấu
đá xe" nhằm lật đổ chính quyền tư bản, lấy giải thoát giai cấp vô
sản làm cứu cánh.
Đạo binh vô sản dự phóng sẽ sang đoạt tài
sản, các phương tiện sản xuất của giới tư bản, và hình thành giai
đoạn độc tài vô sản chuyên chế. –dictatorship of the proletariat–
Cộng sản kỳ vọng đạo binh vô sản thế giới kết hợp để tiêu diệt tư
bản vì lịch sử thế giới là lịch sử của giai cấp đấu tranh, biểu
tượng là cuộc cách mạng vô sản tháng 10/1917 lật đổ triều đại Nga
Hoàng Tsar Nicholas II.
Tuy nhiên, mưu sự tại nhân thành sự
tại Thiên, cộng sản thất bại vì hơn 80 năm trôi qua mà vẫn còn hụp
lặn trong giai đoạn "độc tài chuyên chế vô sản". CS không thực hiện
được cuộc cách mạng vô sản tại các nước tư bản, Anh, Pháp, Hoa kỳ...
mà tiến sang xâm lược các nước chậm tiến, nông nghiệp, với lý do
giải phóng khỏi thiên tai nhân họa bằng cách sát hại hàng trăm triệu
sinh mệnh, bóc lột sức lao động, chiếm đoạt tài sản của nông nô, vô
sản hóa toàn dân bằng cách sát hại "Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc
trốc tận rễ".
Tất cả chỉ nhắm kiến tạo thiên đường vật chất
cho cán bộ và đảng cộng sản qua cái gọi là kinh tế theo định hướng
xã hội chủ nghĩa hay tư bản hóa nhà nước (tức là đảng cộng sản) và
bần cùng hóa nhân dân để kéo dài tình trạng cai trị chuyên chế đại
đa số nhân dân vô sản. "The collapse of the Soviet Union and its
satellite states of Eastern Europe, along with the eclipse of
Chinese socialism by state capitalism has generally wounded both
Marxist legal theory and practice". [Raymond Wacks]
Mặt khác
Chính sách Truman đã phần nào chặn đứng bước tiến của cộng sản bằng
cách viện trợ cho các quốc gia chống lại sự xâm lược của Chủ nghĩa
cộng sản, mặc dầu Hoa Kỳ đã thất bại để cho Trung hoa bị cộng sản
hoá. Trong thời gian từ 1945 đến 1960, hai vị Tổng thống Hoa Kỳ là
Harry Truman (1945–1951) và Dwight D. Eisenhower (1952–1960) đã cố
gắng viện trợ cho các quốc gia ngăn chặn sự bành trướng của Chủ
nghĩa cộng sản... đến sau năm 1990 Liên bang Soviet tan rã, các quốc
gia trong khối lần lượt giành độc lập.
"Harry Truman:
Truman's foreign policy, known as the Truman Doctrine, emphasized
containment of communism. This was a direct response to Soviet
expansion and aimed to prevent the spread of communism in Europe and
beyond. Truman supported military and economic aid to countries
resisting communism, exemplified by the Marshall Plan and U.S.
involvement in the Korean War.
Dwight D. Eisenhower:
Eisenhower continued the policy of containment but introduced the
concept of rollback, which aimed to actively reduce communist
influence in certain regions rather than just containing it. He was
less inclined to engage in direct military conflicts compared to
Truman and favored covert operations (like those conducted by the
CIA) to undermine communist governments.
Boris Yeltsin makes
a speech from atop a tank in front of the Russian parliament
building in Moscow, U.S.S.R., Monday, Aug. 19, 1991. (AP Photo)
Conditions in Eastern Europe and the Soviet Union, however,
changed rapidly. Gorbachev's decision to loosen the Soviet yoke on
the countries of Eastern Europe created an independent, democratic
momentum that led to the collapse of the Berlin Wall in November
1989, and the overthrow of Communist rule throughout Eastern
Europe."
26. Chủ nghĩa cộng sản quốc tế thất bại vì nhiều lý
do trong đó có các lý do thực tế như sau:
(1) Trước khi bản
Tuyên Ngôn Quốc Tế Cộng sản ra đời năm 1848. Thủ lãnh của tôn giáo
lớn nhất hoàn vũ, Đức Giáo Hoàng Pi–ô Thứ 9 (Pope Pius IX), năm 1846
đã cảnh giác thế giới về hiểm hoạ của chủ nghĩa cộng sản: "The
unspeakable doctrine of Communism, as it is called, a doctrine most
opposed to the very natural law. For if this doctrine were accepted,
the complete destruction of everyone's laws, government, property,
and even of human society itself would follow." – Cái học thuyết
nguy hại mà người ta gọi là chủ nghĩa cộng sản từ bản chất trái với
luật tự nhiên (Thiên luật), mỗi khi được chấp nhận, tà thuyết đó sẽ
tiêu diệt hết nhân quyền, mọi định chế công quyền hợp pháp, quyền tư
hữu, và chính xã hội loài người. (Thông Điệp Qui Pluribus.16, ngày
9/11/1846).
(2) Tâm lý con người muốn có tài sản riêng và
quản trị tài sản do mình tạo nên hay quyền tư hữu tài sản. Chế độ
Hợp Tác Xã thất bại vì CS không tiên liệu được phản ứng của giới lao
động. Tư lợi là nguyên động lực thúc đẩy người lao động làm việc,
HTX không đáp ứng nhu cầu của giới nhân công nên thất bại.
(3) Các nước tư bản đã nhanh chóng tu chính hoặc ban hành các đạo
luật bảo vệ quyền lợi của người lao động nên CS không tuyển dụng
được đạo binh vô sản thế giới như Karl Marx chủ trương. Các quốc gia
tư bản đã ban hành hoặc tu chính luật Lao động để thăng tiến đời
sống của nhân công.
– France: In 1841, France passed a law
that limited the hours of underage miners.
– Germany: In
1883, Chancellor Otto von Bismarck passed the Health Insurance Act,
which provided workers with health insurance.
– Netherlands:
In 1895, the Netherlands passed legislation to protect workers from
accidents and health risks.
– In the United States, modern
labor law is largely the result of statutes passed between 1935 and
1974, as well as Supreme Court interpretations. Some key labor laws
in the United States include: National Industrial Recovery Act
(NIRA). Passed in 1933, this act gave unions the right to exist and
negotiate with employers. National Labor Relations Act (NLRA).
Passed in 1935, this act guaranteed the right of private–sector
workers to unionize and engage in collective bargaining. Fair Labor
Standards Act (FLSA) Passed in 1938, this act established minimum
wage and working hours. Equal Pay Act (EPA) Passed in 1963, this act
made it illegal to pay men and women differently for the same work.
Labor law highlights, 1915–2015.
(4) Sự thành công và thịnh
vượng của các nước tư bản và nghèo đói của các nước theo chủ nghĩa
cộng sản, và sự chạy đua vũ khí đã đưa Liên Bang Xô Viết đến chỗ phá
sản. Sau cuộc công du của Gorbachev đến Hoa Kỳ, Gorbachev đã tiến
hành chủ ý giải thể chế độ cộng sản.
(5) Ảnh hưởng của Tôn
giáo: Chuyến đi Ba Lan năm 1979 của Đức Giáo Hoàng John Paul II là
điểm tựa của cuộc cách mạng dẫn đến sự sụp đổ của Chủ nghĩa cộng
sản:
"Không có Giáo hoàng,
không có Đoàn kết.
Không có
Đoàn kết,
không có Gorbachev."
Sau khi sống sót sau một nỗ
lực đảo chính cứng rắn năm 1991, Gorbachev buộc phải nhượng quyền
lực ở Nga cho Boris Yeltsin, người giám sát sự giải thể của Liên Xô.
Sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Trung Âu và Liên Xô đánh dấu
sự kết thúc của chiến tranh lạnh. "Pope John Paul II's 1979 trip was
the fulcrum of revolution which led to the collapse of Communism."
Without the Pope, no Solidarity. Without Solidarity, no Gorbachev.
"After surviving a hardline coup attempt in 1991, Gorbachev was
forced to cede power in Russia to Boris Yeltsin, who oversaw the
dissolution of the Soviet Union. The collapse of communism in East
Central Europe and the Soviet Union marked the end of the cold war".
II. Văn hóa Thần Quyền
27. Bàn đến Thiên luật không thể
không bàn đến tín niệm hệ phổ quát được nhân thế tin tưởng từ Đông
chí Tây, từ Nam chí Bắc là đấng Tạo Hóa đã tạo dựng nên vũ trụ, vạn
vật, và điều khiển sự vận hành của tạo vật qua nhận xét của một số
danh nhân trong các ngành nhân văn và khoa học:
(1) Nhà bác
học nổi danh Albert Einstein đã cảm nghiệm được sự huyền nhiệm của
Tạo Hóa với câu nói bất hủ:
"Người mà không biết say đắm,
trong niềm tôn kính,
trước những huyền bí của vũ trụ,
thì
chẳng khác gì người đã chết".
"L'homme auquel le sentiment du
mystère n'est pas familier, qui a perdu la faculté de s'émerveiller,
de s'abîmer dans le respect, est comme un homme mort".
(2)
Nhà Bác học Isaac Newton ca ngợi công trình của Tạo Hóa:
"Hệ
thống tuyệt đẹp này gồm mặt trời, các hành tinh, và sao chổi, chỉ có
thể xuất phát từ sáng kiến và quyền thống trị của một Đấng thông
minh và toàn năng... Đấng cai quản muôn vật, không phải như linh hồn
của thế giới, mà như Chúa tể của muôn vật; và vì quyền năng thống
trị của mình, Ngài thường được gọi là Tạo Hóa hay Đấng cai trị vũ
trụ". "This most beautiful system of sun, planets and comets, could
only proceed from the counsel and dominion of an intelligent and
powerful Being... This Being governs all things, not as the soul of
the world, but as Lord over all; and on account of his dominion he
is wont, to be called Lord God or Universal Ruler". [Principia]
(3) Giáo sư Dinesh D'Souza, đã nhận định: "Thái Dương hệ vận
chuyển đúng theo phương vị nhờ vào tài năng siêu việt của Đấng Tạo
Hoá". "God was an active agent sustaining the heavenly bodies in
their positions and solicitous of His special creation, man".
28. Đấng Tạo hóa trong văn hóa Ấn Độ
Ấn Độ Giáo
(Hinduism) là một tôn giáo đa thần (polytheism) quan niệm vũ trụ
được tạo dựng bởi Brahma biểu tượng cho Thượng Đế hay Tạo hoá, và
Atman là nhân thế. Hiện nay Hinduism vẫn là tôn giáo phổ quát nhất
của Ấn Độ đã có thể hiện hữu từ thế kỷ thứ 12 trước Công Nguyên. Sự
tương liên giữa con người và Thượng Đế, và phương thức thờ phượng
Thần linh được diễn tả qua các bộ kinh sách Vedas, Upanishads,
Upanishad Gita, với các ý niệm về luân hồi, nghiệp chướng, đầu thai,
niết bàn, địa ngục, giải thoát. Ấn Độ Giáo có ba vị thần chính:
– Brahma (đấng sáng tạo),
– Vishnu (đấng bảo tồn), và
–
Shiva (đấng hủy diệt).
29. Đấng Tạo hóa trong văn hóa Trung
Hoa
(1) Tại Trung hoa, từ thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, Đức
Khổng Tử đã thể hiện tinh thần tôn trọng Thượng Đế qua danh ngôn:
"Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong". Thuận Thiên thì sống,
nghịch Thiên thì chết.
Trong tinh thần "Thiên–Nhân hợp nhất",
các ý niệm mà ngày nay chúng ta gọi là tôn trọng nhân quyền, cũng
được thực thi qua phương thức xử thế theo nguyên tắc Ngũ thường
"Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín" trong lúc giao tiếp với tha nhân. Nguyên
tắc Ngũ luân về liên hệ giữa "Vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em,
bằng hữu" cũng rất phổ quát trong đời sống dân gian. Mỗi mối liên hệ
có những nguyên tắc xử thế riêng, thường được dùng làm tiêu chuẩn
xét định nhân cách. Những đức tính luân lý phổ quát mà từ thiên tử
đến thứ dân đều phải thực hành là những nguyên tắc đạo đức căn bản
và đạo trị quốc của kẻ trượng phu.
Người xưa có câu "Thiên
hữu đạo, tắc nhật nguyệt thanh minh. Nhân hữu đạo, tự nhiên xã hội
an trữ" –Trời có đạo, thì nhật nguyệt rõ ràng. Người có đạo thì xã
hội tất sẽ bình an.
Luân lý đạo đức chính là cái gốc của con
người, là đạo đức căn bản nhất của làm người. Có thể thủ vững đạo
làm người thì mới là người quân tử. Không thiếu đạo làm người thì
chính là người lương thiện. Đạo đức là cái gốc của con người và cũng
là đạo lý đứng đắn mà người người đều nên tuân theo.
(2) Kinh
Dịch là một cuốn kỳ thư nói lên kỳ công của Tạo hóa tạo dựng nên vũ
trụ từ một bầu khí vô cực gọi là Nguyên Khí (souffle originel), có
hai luồng điện chính là Âm (negative) và Dương (positive) hay Lưỡng
nghi (dualités). Kinh Dịch viết Dịch hữu Thái cực, thị sinh Lưỡng
nghi. Lưỡng nghi sinh Tứ tượng (bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông). Tứ
tượng sinh bát quái (8 quẻ) gồm có: Kiền, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm,
Cấn, Khôn...
Cao điểm của sự tăng giảm của hai lượng điện
Dương và Âm là Kiền và Khôn. Kiền gồm 3 dương và Khôn gồm 3 âm. Kiền
thể hiện cho Thiên và Khôn thể hiện cho Địa. Hai quẻ này là đầu mối
cho mọi biến chuyển của vũ trụ. Vì thế cổ nhân dùng chữ kép Kiền
Khôn hay Càn Khôn để chỉ vũ trụ hay Thiên Địa. Đây là một phương
cách diễn tả sự vận hành của luật âm dương trong vũ trụ.
(3)
Theo Tứ Thư và Ngũ Kinh, chín cuốn sách giáo khoa cho sĩ tử trên
2000 năm lịch sử do Đức Khổng Tử san định, thì lời kinh cầu trong
nghi lễ Tế Trời hằng năm cầu cho mưa thuận gió hoà, quốc thái dân
an, từ đời nhà Chu (1122–255) trước Công nguyên, đã được phổ biến
qua các triều đại của Trung Hoa, và các quốc gia chịu ảnh hưởng của
văn hóa Trung Quốc như Đại hàn, Nhật bản, Việt nam...
(4)
"Đấng Thượng Đế là vị Hóa Công tạo nên vũ trụ và nhân loại, là chủ
thể của lịch sử, căn nguyên của các mệnh lệnh luân lý. Đấng phán
xét, thưởng người lành, phạt kẻ dữ." Kinh Thi nói rằng "Đấng Thượng
Đế rất lớn, soi xuống dưới rất rõ ràng, xem xét bốn phương để tìm sự
khốn khổ của dân mà cứu giúp. Vậy nên người bao giờ cũng phải kính
và sợ Trời". "Kính Trời và sợ Trời là căn bản đạo đức của người
Tàu". [Nho Giáo của Trần Trọng Kim]
(5) Trời rất thông minh
nên các thánh quân phải bắt chước Trời, quần thần sẽ khâm phục, dân
chúng sẽ an vui (Sách Thượng Thư). Điều dân chúng ước ao thì Trời
cũng chiều theo. "Dân chi sở dục, Thiên tất tòng chi" "Ý dân là ý
Trời" (Kinh Thư). Đã làm người thì ai cũng là con của Trời. Trời
không phụ kẻ có lòng tốt. "Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhân". Trời
sinh ra con người, ban cho con người trí tuệ, có lý trí, có ý chí,
và tự do, có quyền quyết định, lựa chọn cuộc sống. Con người có cố
gắng thì Trời bồi bổ thêm lên, "Khi nên Trời cũng chiều người". Nếu
con người biếng nhác thì sẽ bị chi phối bởi luật đào thải (loi de
selection). "Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức, cố tài
giả bồi chi, khuynh giả phúc chí". Trời hành đạo rất mạnh, người
quân tử phải theo mà tự cường không được ngừng nghỉ, bỏ cuộc.
(6) Sách Trung Dung cũng nhấn mạnh Trời sinh ra muôn vật tất
nhiên vì cái tài lực của mỗi vật mà đôn đốc thêm vào, cho nên vật
nào có thể vun đắp được thì vun trồng cho tốt thêm, vật nào nghiêng
ngả thì đành chịu lụn bại. "Thiên chi sinh vật, tất nhân kỳ tài nhi
đốc yên, cố tài giả bồi chi, khuynh giả phúc chí" để khích lệ con
người tự lực tự cường thay vì biếng nhác.
(7) "Vi thiện giả,
Thiên báo chi dĩ phúc, vi bất thiện giả Thiên báo chi dĩ hoạ". Ai có
nhân cách tốt và làm điều lành thì Trời ban phúc cho, ai làm điều
chẳng lành, Trời lấy vạ mà báo cho. "Thiện ác đáo đầu chung hữu
báo". Đúng là "Grace respects nature". Trời ban ơn tùy bản tính của
mỗi người, người vô công thì bất thọ lộc. Trên không oán Trời, dưới
không trách người, cứ sống bình dị mà đợi mệnh. [Tam giáo: Đường
Thi]
Tóm lại, Thiên mệnh chính là ý chí của đấng Tạo Hóa, vô
cùng thương dân, chỉ muốn đem lại an hoà, hạnh phúc cho nhân loại mà
thôi.
30. Đấng Tạo hóa trong Thần học Công Giáo.
(1)
Từ thuở tạo thiên lập địa, từ Đông chí Tây, từ Nam chí Bắc, đa số
nhân thế đã tin vào một Đấng Tạo Hóa toàn năng, là đệ nhất Tác Nhân,
(First Cause/agent) tạo nên muôn loài và vũ trụ. Thánh Thomas
Aquino, qua sách Tổng Luận về Thần học –Summa Theologiae– đã minh
định: Tạo hóa đã ẩn tàng trong tâm hồn của nhân thế. "Tạo hóa nội
tại ở trong vạn vật và trong nội tâm hay lương tri của mỗi người nên
trên bình diện tự nhiên, đấng Tạo hóa đã hiện hữu trong tâm trí họ
rồi". "The immanent creator is in all things and in the inner self
or conscience of each person, so on the natural level, the creator
already exists in their minds."
(2) Vì thế, người Tín hữu
chân chính của các tôn giáo không những phải yêu chuộng những người
đồng tín ngưỡng mà cả những người không cùng tín ngưỡng nhưng có
lòng thành. Công đồng Vatican II trong Hiến chế Vui Mừng và Hy vọng
(Gaudium et Spes,4) đã nhắc nhở tôn chỉ này với hàng giáo phẩm: "The
Church Pastors... speaking with love and mercy not only to believers
but to all people of good will" vì ơn Cứu Độ của Đấng Tạo hóa được
ban cho mọi người. "Salvation is open to all".
(3) Thiên Chúa
Giáo đã được truyền bá vào Trung Hoa từ thế kỷ thứ 6, năm 578 đời
nhà Đường. Trước đó, năm 381, tại phương trời Tây, dưới thời Hoàng
Đế La Mã Theodosius, Công Giáo đã đã trở thành Quốc Giáo của Đế Quốc
La Mã. "In 381, the emperor Theodosius made Christianity the only
and official religion of the Roman Empire... a Roman was to be a
Christian". Hễ nói đến Công giáo, thiên hạ nhớ đến La Mã. Hễ nói đến
dân La Mã, thiên hạ nghĩ đến người Công giáo. Sau đó nhà thám hiểm
Marco Polo đến Trung Hoa giúp nhà Nguyên từ thế kỷ thứ 13 thuật lại
những di tích lịch sử của Thiên Chúa Giáo tại Trung hoa. Các Dòng
truyền giáo vào Á Đông thời bấy giờ có 2 khuynh hướng:
–
Các
giáo sĩ Dòng Tên chủ trương tôn trọng phong tục, tập quán địa phương
giúp sự hài hoà tôn giáo tại các quốc gia Đông Á. Trong tinh thần
đó, Vua Gia Long đã ban chiếu chỉ như sau: "Người Công giáo cũng là
công dân của nước Việt Nam rộng lớn, cũng như các đối tượng khác
giữa chúng ta. Buộc họ thực hành một tôn giáo trái với niềm tin của
họ sẽ là một sai lầm, bất công lớn. Đối với Trẫm, nó sẽ làm phật
lòng Thượng Đế và vi phạm tinh thần công bằng của Trẫm."
–
Các giáo sĩ Dòng Đa minh... không khoan dung với những tập tục mà họ
cho là mê tín, dị đoan, cấm các nghi lễ Nho giáo nên đã gặp trở ngại
trong các thời vua nhà Thanh và tại Việt Nam trong thời vua Minh
Mạng, Tự Đức...
(4) Đến năm 1939, Đức Giáo Hoàng Pi–ô XII cho
phép các giáo hữu tại Á Châu thực hành nghi lễ cổ truyền trong việc
thờ cúng tổ tiên. Năm 1988 Đức Giáo Hoàng Phaolô II đã công bố 117
vị Thánh Tử Đạo Việt Nam gồm có các linh mục và giáo hữu Việt Nam,
tu sĩ Tây Ban Nha, và Linh mục Dòng Thừa Sai Pháp Paris.
(5)
Để xác minh ý niệm cứu rỗi một cách rộng rãi, Công Đồng Vatican II
đã tuyên bố đối với những ai, không vì lỗi của họ, không biết gì về
Thiên Chúa và Giáo hội của Ngài, nhưng cố công tìm kiếm Thiên Chúa
với lương tâm chính trực, có thể được sự sống đời đời... Vì lòng
thành và chân lý tìm thấy trong những người này chờ đón sự viên mãn
trong Đức Giêsu Kitô. "Those who without any fault do not know
anything about Christ or His Church, yet who search for God with
sincere hearts and under the influence of grace, try to put into
effect the will of God as known to them through the dictate of
conscience... can obtain eternal salvation". [Lumen Gentium 16]
(6) Nhờ "Tình nhân loại hỗ tương và bác ái cộng đồng cố hữu của
Giáo Hội được nới rộng". Tinh thần tôn trọng tự do, các quyền căn
bản mà Thượng đế đã ban cho loài người, chống lại áp bức của bạo
quyền đã gây ảnh hưởng lớn lao, khiến cho dân chúng của các dân tộc
dị giáo và công dân La Mã đã trở lại Thiên Chúa Giáo. Thiên Chúa
Giáo trở thành quốc giáo của Đế Quốc La Mã vào thế kỷ thứ 4 sau Công
nguyên. Hoàng Đế La Mã Constantine (306–337) cũng đã trở lại đạo.
"It was the Christian spirit of mutual love and communal charity
that astonished and impressed the pagans and the Romans".
(7)
Sự hiện hữu của giáo dân trong các tổ chức là bước khởi đầu cho công
cuộc thánh hoá. Sự tham gia vào các tổ chức văn hoá, xã hội, chính
trị... phải đặt trên căn bản thánh thiện, nhằm mục đích phục vụ phúc
lợi chung, tránh vấn đề ủng hộ hay phản đối mù quáng, nên thánh hoá
chương trình hành động của các chính đảng thay vì lập bè kết phái mà
quên rằng thiên hạ đang nhìn mình như là một chi thể của giáo hội,
xử thế không đúng cách sẽ bị xem như "cành nho khô héo, sẽ bị thiên
hạ bỏ vào lửa mà đốt đi". [Jn. 6:16]
(8) Thánh Kinh đã ghi
"Christ came not to condemn, but to forgive, to show mercy [Mt
9:13]" Chúa xuống thế không phải để trừng trị mà đến để tha thứ và
thương xót. Tất cả các đạo lý thể hiện trong các tín ngưỡng đều đang
chờ đón sự viên mãn trong Đức Kitô. Giải phóng nô lệ là một trong
những vấn đề cải cách xã hội quan trọng vì Giáo hội quan niệm "về
bản chất, tất cả mọi người đều sinh ra tự do và bình đẳng." "by
nature all men are born free and equal". "Nếu những người mà tự
nhiên ban đầu sinh ra đã được tự do, và những người mà luật pháp của
các quốc gia đã áp đặt vào ách nô lệ, phải được trả lại quyền tự do
mà họ đã được hưởng từ khi sinh ra". Pope Gregory I wrote – "by
nature all men are born free and equal. if men whom nature
originally produced free, and whom the law of nations has subjected
to the yoke of slavery, be restored by the benefit of manumission to
the liberty in which they were born."
(9) Vào tháng 12 năm
1839, Giáo hoàng Gregory XVI đã ban hành Thông Điệp "In Supremo",
một bức thư tông đồ lên án nạn buôn bán nô lệ bằng những lời lẽ mạnh
mẽ nhất có thể để chấm dứt nạn buôn bán nô lệ. "In December, 1839,
Pope Gregory XVI issued In Supremo, an apostolic letter that
condemned the slave trade in the strongest possible terms... to
bring the trade to an end."
(10) Cũng trong tinh thần bảo vệ
nhân quyền, trước khi bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Cộng sản (Communist
Manifesto) ra đời năm 1848, Đức Giáo Hoàng Pi–ô Thứ 9 (Pope Pius
IX), năm 1846 đã cảnh giác thế giới về hiểm hoạ của chủ nghĩa cộng
sản. "Cái học thuyết nguy hại mà người ta gọi là chủ nghĩa cộng sản
từ bản chất trái với luật tự nhiên. Mỗi khi được chấp nhận, tà
thuyết đó sẽ tiêu diệt hết nhân quyền, mọi định chế công quyền hợp
pháp, quyền tư hữu, và chính xã hội loài người." Cảnh giác này đã
thực sự tác động khiến cho chủ nghĩa cộng sản tàn lụi dần. Từ thập
niên 1950, chủ nghĩa cộng sản đã chiếm gần một nửa thế giới đến sau
1990 chỉ còn lại bốn nước theo chủ nghĩa cộng sản là Trung cộng,
Việt Nam, Bắc Hàn, và Cuba.
31. Hoa kỳ: Quốc Gia Sùng Đạo
(1) Hoa kỳ giàu mạnh nhất thế giới về các lĩnh vực chính trị,
kinh tế, quân sự, và ngoại giao nhờ một yếu tố quan trọng là Hoa Kỳ
đã đặt căn bản lập quốc trên lòng tin vào ân sủng của Thiên Chúa.
"In God we trust". Hoa Kỳ là một quốc gia khiêm nhường, chưa nghe ai
nói là Hoa Kỳ tự xưng mình là "Đỉnh cao trí tuệ" mặc dù đa số người
lãnh giải Nobel là người Hoa Kỳ. Hoa Kỳ trông cậy vào Thần quyền,
nhờ đó Hoa kỳ đã được vũ trang gấp đôi nhờ Hoa Kỳ đã chiến đấu bằng
đức tin như lời của Platon: "We are twice armed if we fight with
faith". Chúng ta được vũ trang gấp đôi nếu chúng ta chiến đấu bằng
đức tin.
(2) Abraham Lincoln, Tổng thống Hoa Kỳ, đã xác nhận
quốc gia Hoa Kỳ được tạo dựng trong ơn Thánh Sủng của Đấng Tạo Hóa
trong bài diễn văn lịch sử đọc tại Gettysburg, Pennsylvania năm
1863. "This Nation, under God, shall have a new birth of freedom and
shall not perish on the earth".
(3) Tinh thần "thuận Thiên
giả tồn" đã đóng vai trò quan trọng trong đời sống của công dân Hoa
Kỳ, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị,
pháp luật, đều dựa trên tinh thần và giá trị xã hội tôn thờ đấng Tạo
Hóa trong mọi sinh hoạt của quốc gia. Các Viên chức công quyển luôn
đinh ninh "trên đầu ba tấc có thần linh" hỗ trợ cho hành vi của họ
được chính trực, thể hiện tinh thần đạo đức của Xã hội Hoa Kỳ. Nhờ
vây, Hoa Kỳ đã được Thần Quyền hỗ trợ, vì bản chất con người yếu
đuối, dễ bị sa ngã.
(a) Lời cầu nguyện xin Thượng Đế chúc
phúc lành trong mọi điệp văn của tổng thống.
(b) Lời nguyện
xin Thượng Đế chúc phúc trước khi khai mạc các phiên họp của Lưỡng
Viện Quốc Hội.
(c) Lời nguyện cầu trong lúc tuyên thệ tại Tòa
án "So help me God".
(d) Các phiên tòa khai mạc bằng câu "God
save the United States and his Honorable Court".
(e) Lễ Tạ ơn
hằng năm được cử hành trọng thể.
(f) Trên các công thự và
đồng Mỹ Kim đều có khắc câu: "In God we trust". Câu này biểu hiện
tín ngưỡng của Hoa Kỳ được dùng từ năm 1860 và được Quốc Hội Hoa Kỳ
thứ 84 biểu quyết dùng làm châm ngôn của Hoa Kỳ.
Tại Việt Nam
lễ Tế Trời đã được cử hành trọng thể hằng năm để cầu cho quốc thái
dân an, mưa thuận, gió hòa, cũng là một tập tục tốt trong thời quân
chủ. Tuy nhiên trong thời tự chủ, chính quyền không hòa giải nổi yêu
sách giữa các tôn giáo, các đoàn thể chính trị, các thế lực ngoại
bang nên đành phải lui binh năm 1975. Từ đó, những công dân cố thủ
tại quê hương và những công dân di dân ra hải ngoại có thời gian
chuẩn bị, chờ ngày trong ứng, ngoại hợp giải thể chê độ độc tài cộng
sản, tái lập tự do, dân chủ, nhân quyền, và hạnh phúc thực sự cho
toàn dân: Khi đó Cờ Vàng sẽ mọc thiên phương vạn hướng, sẽ không còn
cảnh tang thương, "không thấy phố, không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ".
(4) Sức mạnh chính của một dân tộc là đức
tin. Nhờ đức tin nhập thế mà Hoa Kỳ duy trì được sức manh tinh thần
và phát triển nền văn minh vật chất tiên tiến nhất thế giới khiến
cho các nước vô thần cộng sản ghen tức, sinh ra "mâu thuẫn nội tại".
Một mặt CS cho gian tế xâm nhập vào Hoa kỳ để phá hoại nền văn hoá
hữu thần "In God we trust", chuyển hướng từ đấu tranh giai cấp sang
đấu tranh chủng tộc, mặt khác gởi con cái đến Hoa Kỳ để tầm sư học
đạo!
(5) Tinh thần tôn giáo quả đã gây ảnh hưởng sâu đậm,
hướng dẫn mọi khía cạnh sinh hoạt của xã hội Hoa Kỳ. Các đạo luật
(man–made law) do Quốc hội tiểu bang và Liên bang soạn thảo và biểu
quyết thường phải phù hợp với các nguyên tắc luân lý do tín ngưỡng
hướng dẫn. Luật cấm đa thê, cấm phá thai, cấm giết người... là những
thí dụ điển hình.
(6) Trong phòng Xử án của Tối Cao Pháp Viện
Hoa Kỳ có treo bức hoành khắc hình Ông Môisen, người đã hướng dẫn
dân Do Thái thoát khỏi ách nô lệ của Ai Cập và các Điều Răn Đức Chúa
Trời biểu tượng cho Thiên Lý. "The U.S. Supreme Court's courtroom
features a frieze that depicts Moses holding tablets inscribed with
Hebrew, along with the Ten Commandments. The frieze is part of a
series of historical figures that look down on the justices, and has
been in the courtroom since the building opened 70 years ago. The
frieze was sculpted by Adolph Weinman and includes other figures
such as Hammurabi, the king of Babylon, and commandments six through
10. The Supreme Court has said that the Ten Commandments are
displayed in the courtroom as an example of a famous legal code."
Phòng xử án của Tối cao Pháp Viện Hoa Kỳ có một bức hoành mô tả
Moses cầm những tấm bia khắc chữ Hebrew, cùng với Mười điều răn. Bức
hoành là một phần của loạt hình tượng các nhân vật lịch sử nhìn
xuống các thẩm phán, và đã có mặt trong phòng xử án kể từ khi tòa
nhà mở cửa cách đây 70 năm. Bức hoành này được điêu khắc bởi Adolph
Weinman và còn bao gồm các nhân vật khác như Hammurabi, vua Babylon,
và các điều răn từ sáu đến mười. Tòa án Tối cao cho biết rằng Mười
điều răn được trưng bày trong phòng xử án như một ví dụ về một bộ
luật nổi tiếng.
III. Nhân luật (positive law)
32. Luật
do con người ấn định, thường hay nay đổi mai thay, để duy trì an
ninh, trật tự cho đời sống. "Man–made law is required if we are to
protect order and security". Muốn nhân luật phù hợp với tình người,
nhân luật phải tôn trọng các yếu tố tín ngưỡng, luân lý xã hội,
chính trị của quần chúng. "Deciding what the man–made law is depends
inescapably on moral political considerations".
(1) Luật của
chế độ CS phủ nhận nhân quyền. Luật CS chỉ là phương tiện để đàn áp
người quốc gia, loại trừ những người bất đồng chính kiến, cấm đoán
các tự do căn bản của con người qua những luật lệ vi phạm nhân quyền
do các chế độ độc tài CS ban hành như Hiến pháp của Cộng Hoà Xã Hội
Chủ Nghĩa Việt Nam giành độc quyền cho đảng CS cai trị VN.
(2) Chủ nghĩa CS đã sát hại hàng trăm triệu sinh linh trên thế giới.
Luật lệ các quốc gia tự do, vì lý do bảo vệ nhân quyền, khuyến khích
nhân dân nổi dậy, lật đổ chế độ bất công vi phạm nhân quyền trong
trường hợp bị áp bức bởi những luật lệ bất công. "A government that
abuses its authority by enacting laws which are unjust forfeits its
rights to be obeyed because it lacks moral authority... If a ruler
enacts unjust laws their subjects are not obliged to obey them".
[St. Thomas Aquinas]. "an unjust law is not law"
33. Bản
Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ ghi nhận:
(a) Tạo hóa tạo dựng
nên con người bình đẳng và ban cho con người các quyền bất khả xâm
phạm như quyền được sống, được tự do, và quyền tìm kiếm hạnh phúc;
(b) Chính quyền có nhiệm vụ bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm
này;
(c) Nếu chính quyền nào thu hồi những quyền bất khả xâm
phạm này, nhân dân có quyền nổi dậy và thành lập chính quyền mới.
34. Dân Vi quý xã tắc thứ chi quân vi khinh
Á Đông cũng
có quan niệm "Dân là nước, chính quyền là thuyền. Nước có thể lật đổ
thuyền.", hay "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh". Đúng vậy,
một văn kiện bất công không phải là luật mà nhân dân phải tôn trọng.
"an unjust law is not law (Cicero–106–43 BC)" và triết gia Anh quốc
John Locke (AD 1632–1704) đồng tình hỗ trợ nhân dân nổi dậy chống
bất công, bạo ngược.
Những viên chức có trách nhiệm thực hiện
lý tưởng tự do không những thực hiện chương trình hợp với cương
thường đạo nghĩa mà còn phải ngăn cản người khác làm việc ác. Vì Nếu
người tốt vòng tay, tĩnh tọa, thì kẻ gian tà sẽ chiến thắng. "The
only necessary thing for the triumph of evil is that good men do
nothing". [John S. Mill]
35. Pháp chế của thế giới tự do về
cộng sản
Trước sự liên tục tấn công của nhà cầm quyền CSVN
vào tập thể người Việt tự do trên toàn thế giới, bằng hết nghị quyết
này đến quyết định khác, nhưng đều bị vô hiệu hóa trước ý chí bất
khuất của người Việt quốc gia hải ngoại và lòng tin tưởng không nao
núng vào sự tất thắng của chính nghĩa tự do. Các nước theo chế độ
cộng sản đã mất hết uy tín trên chính trường quốc tế vì vi phạm nhân
quyền.
Trên chính trường quốc tế, chủ nghĩa cộng sản trong
các thập niên 1950–1980 đã chiếm gần một nửa thế giới. Sau năm 1990,
chỉ còn 5 nước cộng sản trên 193 quốc gia thành viên của Liên Hiệp
Quốc. Tinh thần chống Cộng tích cực của thế giới tự do đã giúp chúng
ta vững tin vào chính nghĩa tự do đã được minh chứng qua một số dữ
kiện áp đảo tiêu biểu như sau:
(1) "Đừng nghe những gì CS nói
mà hãy nhìn những gì CS làm".
(2) Luật là địa phương – Law is
local– nên các văn kiện do CSHN phổ biến tại hải ngoại thường vô giá
trị về mặt pháp lý. Nếu có ai nhẹ dạ hoạt động cho CS, rốt cuộc cũng
bị đồng hương phát giác, ruồng bỏ, thân bại danh liệt, hoặc bị cơ
quan an ninh các quốc gia tự do hoặc FBI tại Hoa Kỳ theo dõi vì tội
gián điệp cho ngoại bang, hay bị trục xuất vì vi phạm luật di trú
như đã tuyên thệ không được hoạt động cho cộng sản khi xin nhập
tịch. Nguyên tắc tổng quát chung là "U.S. citizens in the U.S are
subject to U.S. law, not to foreign state executive orders. A
foreign state executive order has no legal force on persons inside
the United States unless recognized by the United States court or
treaty. (22 U.S.C 611 et esq; (18 U.S.C 951; 18 U.2836; Principle of
Sovereignty and Non–Intervention, UN Charter; Vienna Convention on
Consular Relations; International Covenant on Civil and Political
Rights...)".
Chính sách bài trừ chủ nghĩa cộng sản của Hoa Kỳ
được thể hiện hằng năm qua các Nghị Quyết của Quốc Hội và Tuyên Cáo
của Tổng thống "NOW, THEREFORE, I, DONALD J. TRUMP, President of the
United States of America, by virtue of the authority vested in me by
the Constitution and the laws of the United States, do hereby
proclaim the week of November 2 through November 8, 2025, as
Anti–Communism Week."
(3) Ngày 2/2/2023, Quốc Hội Hoa Kỳ,
trong phiên họp thứ 118, đã ban hành Nghị Quyết H. Con. Res.9 –
Denouncing the horrors of socialism – tố giác Chủ nghĩa Xã hội CS đã
sát hại cả trăm triệu người từ khi phát động cuộc cách mạng vô sản
năm 1917 tại Nga Sô. Đảng CS Hà nội đã phạm tội ác diệt chủng
(genocide) tày trời, gây chiến tranh tang tóc, làm thiệt hại nhân
mạng cho hơn 5 triệu người Việt cả Nam lẫn Bắc và chôn sống trên
7000 người vô tội trong Tết Mậu Thân 1968 tại Huế.
(4) Trong
bản Báo cáo năm 2023 của Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Thế Giới, CS Hà Nội
bị liệt vào danh sách Special Watch List, vì vi phạm tự do tôn giáo
trầm trọng (SWL for countries where the government engages in severe
violations of religious freedom) ngang hàng với các nước Phi châu!
UB Tự Do Tôn Giáo Thế giới đã bác bỏ yêu cầu của Hà nội xin rút tên
ra khỏi danh sách SWL.
(5) Tại Canada, chiếu Điều 98 Bộ Hình
Luật Canada năm 1936 Thủ tướng Maurice Duplessis ban hành đạo luật
Padlock Act chống lại chiến dịch phá rối trị an của cộng sản. Đạo
luật cho phép chính quyền Liên Bang trục xuất cư dân tạm trú hoạt
động cho CS và kết án hình sự những kẻ gây xáo trộn xã hội và âm mưu
lật đổ chính phủ. Đạo luật Padlock cho phép cơ quan an ninh dẹp tan
các cuộc hội họp của bọn cán bộ cộng sản.
(6) Nghị quyết của
Nghị viện Châu Âu ngày 19 tháng 9 năm 2019 là nghị quyết tố cáo Chế
độ cộng sản đã thực hiện các vụ giết người hàng loạt, diệt chủng, và
gây ra sự mất mát về nhân mạng và tự do trong thế kỷ 20 trên quy mô
chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại.
(7) Tại Úc Châu, Quốc
Hội đã ban hành Đạo luật giải thể Đảng cộng sản vào ngày 20 tháng 10
năm 1950, tuyên bố Đảng cộng sản là một hiệp hội bất hợp pháp, bị
giải thể và tài sản bị tịch thu mà không được bồi thường.
(8)
Hiến Pháp VNCH đặt CS ra ngoài vòng pháp luật. Hoạt động cho CS bị
cấm đoán dưới mọi hình thức. Hiến pháp Hoa Kỳ bảo đảm các quyền tự
do căn bản của con người, do đó, mặc nhiên cấm đoán những hành vi
xét ra vi phạm hay cản trở sự thực hiện các quyền tự do hiến định,
chẳng những cho công dân Hoa Kỳ mà triết lý hành động này còn hướng
dẫn, chỉ đạo hoạt động của Hoa Kỳ trên toàn thế giới.
(9)
Trong suốt 100 năm sau ngày ban hành bản Tuyên Ngôn Cộng sản Quốc Tế
(1848–1948), phong trào Cộng sản Quốc Tế (CSQT) đã bành trướng qua
các Liên minh (Communist Comintern): Phong trào Đệ nhất (1864–1876),
Đệ nhị (1889–1918), Đệ tam (1919–1943), và Đệ tứ Quốc Tế
(1938–1953). Mục đích của CSQT nhằm lật đổ chính quyền tư bản, lấy
giải thoát giai cấp vô sản làm cứu cánh và kỳ vọng đạo binh vô sản
thế giới kết hợp để tiêu diệt tư bản vì lịch sử thế giới là lịch sử
của giai cấp đấu tranh, biểu tượng là cuộc cách mạng vô sản tháng
10, 1917 lật đổ triều đại Nga Hoàng Tsar Nicholas II... Tại Trung
hoa, Mao Trạch Đông đã thôn tính Trung hoa lục địa năm 1949 và Tưởng
Giới Thạch phải di tản ra đảo Đài Loan. Chủ trương khủng bố, bạo
động của CS đã giết hại hàng trăm triệu sinh linh từ Đông sang Tây,
từ Nam chí Bắc, gieo rắc nỗi kinh hoàng cho nhân loại.
(10)
Trước sự bành trướng nhanh chóng của chủ nghĩa cộng sản quốc tế, Hoa
Kỳ đã gia tăng guồng máy an ninh quốc nội và tình báo quốc ngoại,
ban hành và tu chính nhiều đạo luật ngăn ngừa phá rối trị an. Từ năm
1798 Hoa Kỳ đã ban hành luật Alien and Sedition Act. Năm 1917, Hoa
Kỳ ban hành luật Espionage Act, đồng thời với cuộc cách mạng vô sản
tại Nga sô. Năm 1901, Tổng thống William Mc Kingsley bị các phần tử
chủ trương vô chính phủ ám sát. Tiểu bang New York ban hành luật
ngăn ngừa tội phạm ám sát vì lý do chính trị và âm mưu lật đổ chính
phủ. Năm 1919 Schenck, đảng viên CS, đã bị kết án vi phạm luật
Espionage Act 1917 vì sách động thanh niên phản đối chiến tranh và
cản trở vấn đề tuyển mộ binh sĩ. Năm 1919 tại Ohio, Debs, một thủ
lãnh CS, đã đọc diễn văn trước 1,200 khán giả nhằm sách động chống
chiến tranh, xúi dục thanh niên bất tuân lệnh nhập ngũ, đã bị kết án
trên 10 năm. Năm 1927 tại California, Whitney, đảng viên CS, bị kết
án vi phạm luật Criminal Syndicalism Act, tổ chức phá hoại, dùng bạo
lực làm phương tiện lật đổ chính quyền hợp pháp... Năm 1951, chiếu
luật Smith Act, 11 lãnh tụ CS đã bị kết án vì chủ trương bạo hành,
lật đổ chính phủ.
(11) Hoa kỳ ban hành đạo luật Communist
Control Act of 1954. – Đạo luật Kiểm soát cộng sản năm 1954 của Hoa
Kỳ được Tổng thống Dwight Eisenhower ký vào ngày 24 tháng 8 năm
1954, đặt những hoạt động phá hoại [của] đảng cộng sản Hoa Kỳ ra
ngoài vòng pháp luật. Khoản 2, đạo luật Kiểm soát cộng sản phân định
sự khác biệt giữa chính đảng quốc gia và chính đảng cộng sản:
(a) Quốc hội xác nhận và tuyên bố rằng đảng cộng sản tại Hoa Kỳ,
mặc dù có mục đích như là một đảng chính trị, nhưng trên thực tế là
một công cụ của âm mưu lật đổ Chính phủ Hoa Kỳ.
(b) Đảng CS
tạo thành một chế độ độc tài trong một nước Cộng hòa, đòi hỏi cho
mình những đặc quyền dành cho các đảng phái chính trị, nhưng lại phủ
nhận tất cả các quyền tự do được Hiến pháp Hoa Kỳ bảo đảm cho tất cả
các đảng phái khác.
(c) Không giống như các đảng chính trị
quốc gia phát triển các chính sách và chương trình của đảng thông
qua các phương tiện công cộng, bằng cách dung hòa nhiều quan điểm cá
nhân khác nhau và đệ trình các chính sách và chương trình đó tới cử
tri nói chung để phê chuẩn hoặc không tán thành. Các chính sách và
chương trình của đảng cộng sản được các nhà lãnh đạo nước ngoài của
phong trào cộng sản quốc tế bí mật quy định.
(d) Các thành
viên của đảng cộng sản không có vai trò gì trong việc xác định các
mục tiêu của đảng và không được phép lên tiếng bất đồng quan điểm
với các mục tiêu của đảng.
(e) Không giống như các thành viên
của các đảng phái chính trị quốc gia, các thành viên của đảng cộng
sản được tuyển dụng để truyền bá các mục tiêu và phương pháp của
đảng, đồng thời được tổ chức, hướng dẫn, và kỷ luật để thực hiện một
cách mù quáng các nhiệm vụ do người đứng đầu đảng bộ giao phó.
(f) Không giống như các đảng chính trị quốc gia, đảng cộng sản
thừa nhận không có giới hạn hiến pháp hoặc luật định nào đối với
hành vi của đảng hoặc của các thành viên.
(g) Đảng cộng sản
có số lượng thành viên tương đối nhỏ và ít có dấu hiệu cho thấy khả
năng đạt được mục đích của mình bằng các biện pháp chính trị hợp
pháp.
(h) Mối nguy hiểm cố hữu trong hoạt động của đảng cộng
sản là hoạt động không phát sinh từ số lượng, mà từ việc đảng không
thừa nhận bất kỳ hạn chế nào về bản chất hoạt động của mình và sự
cống hiến của đảng cộng sản đề xuất nhằm chủ trương phá hoại chính
phủ hợp hiến của Hoa Kỳ bởi bất kỳ phương tiện sẵn có nào, bao gồm
cả việc sử dụng vũ lực và bạo lực.
(i) Nắm giữ chủ trương
trên, vai trò của đảng cộng sản với tư cách là cơ quan của một thế
lực thù địch nước ngoài khiến sự tồn tại của nó trở thành mối nguy
hiểm hiện nay và liên tục trong tương lai đối với an ninh của Hoa
Kỳ.
(k) Đó là phương tiện của đảng cộng sản mà qua đó các cá
nhân bị dụ dỗ phục vụ phong trào cộng sản thế giới, được huấn luyện
để thực hiện mệnh lệnh được chỉ đạo và kiểm soát trong việc thực
hiện âm mưu phục vụ cách mạng của họ. Hoa Kỳ giữ vững lập trường tôn
trọng tự do, dân chủ, và cho các khuynh hướng chính trị hoạt động
nhưng phải tuân theo luật lệ Hoa Kỳ, cấm đoán những hoạt động khuynh
đảo, phá rối trị an, lật đổ chính phủ, để bảo vệ hạnh phúc cho toàn
dân.
(12) Xin đơn cử một thí dụ về luật tiểu bang đối với chủ
nghĩa cộng sản. Luật của tiểu bang Massachusetts, định nghĩa các tổ
chức khuynh đảo là những tổ chức có mục đích chung nhằm lật đổ chính
quyền hợp pháp bằng phương pháp bạo động và bằng các phương thức bất
hợp pháp. Đảng Cộng sản là đảng có mục đích khuynh đảo, do đó đảng
Cộng sản là đảng không được luật Massachusetts công nhận.
Tổng trưởng Tư pháp có nhiệm vụ điều tra và truy tố các tổ chức
khuynh đảo. Đảng viên các tổ chức khuynh đảo thường bị truy tố về
tội hình sự, không được ứng cử vào các chức vụ công cử, không được
bổ nhiệm vào các chức vụ tại các cơ quan công quyền, không được
tuyển dụng vào các cơ sở giáo dục công lập và tư thục, và bị cấm
hành nghề trong nhiều lĩnh vực nhân sinh.
Vì vậy, Đảng cộng
sản phải bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Như vậy, Quốc hội Hoa Kỳ đã
ban hành luật trừng trị các hành động phá rối trị an, lật đổ chính
phủ. Các luật lệ cấp Liên bang cũng như cấp Tiểu bang hiện nay vẫn
còn có hiệu lực áp dụng đối với các hành vi phá rối trị an, lợi dụng
tự do ngôn luận để tuyên truyền xuyên tạc, sách động quần chúng tạo
nguy cơ cho nền an ninh quốc nội. Mặc dù hiện nay Hoa Kỳ giao thương
với các nước cộng sản, nhưng các chính quyền độc tài vẫn đối nghịch
với thế giới tự do, chứ không có nghĩa bang giao tức là xóa bỏ lằn
ranh Quốc Cộng.
(13) Hoa kỳ, cũng như các quốc gia tự do, mọi
công dân có quyền thể hiện tư tưởng và hành động theo quy định của
luật pháp để bảo vệ an ninh, trật tự, và sinh mạng chung của công
dân và bị truy tố, nếu phạm luật với châm ngôn là không ai có thể tự
biện hộ là mình phạm lỗi vì không biết luật: "Ignorance of law is no
excuse". Nhờ vậy mà Hoa Kỳ, một xã hội hợp chủng, nhưng duy trì được
tự do, an ninh, trật tự để nhân dân vui hưởng được đời sống an bình.
An cư, lạc nghiệp là điều kiện tiên quyết để mọi công dân nỗ lực
đóng góp vào sự phồn thịnh của quốc gia. Các văn kiện thượng dẫn đã
dẫn chứng các trường hợp hoạt động cho cộng sản, quấy rối trị an, đã
bị truy tố.
(14) Ngoài các đạo luật cấp Liên bang và tiểu
bang, lực lượng chống CS trong nhân dân tại Hoa Kỳ rất mạnh mẽ.
Những người thoát nạn CS đã đến Hoa Kỳ từ các nước bị Hồng Quân Nga
chiếm đóng sau thế chiến thứ hai và trong thời gian chiến tranh
lạnh. Tại Hoa Kỳ hiện nay có một số tổ chức chủ trương cực hữu như
John Birch Society, 20th Century Reformation Hour, Life Line,
Christian Crusade, Manion Forum, Christian Anti–Communist Crusade,
Liberty Lobby, Conservative Society of America, Church League of
America, Harding College's National Education Program, Richard
Cotten, Christian Freedom Foundation, v.v.
Những người di dân
từ các nước Đông Âu bị Hồng quân Nga chiếm đóng sau đệ nhị thế chiến
hoạt động mạnh mẽ trong các tổ chức cực hữu. Mỗi cơ quan đều có tạp
chí để phổ biến đường lối trong quần chúng. Chủ trương quốc gia cực
hữu nhất quyết không công nhận cộng sản dưới bất cứ hình thức nào,
đã đang là thành trì chống cộng hăng hái nhất hiện nay. Chính thành
phần này có mặt trong mọi cơ quan chính quyền và cũng đã ủng hộ tiếp
nhận nạn nhân chiến cuộc Đông Dương. Lực lượng chống CS mới đến sau
1975 tuy là thiểu số nhưng đóng góp đáng kể nâng cao tinh thần chống
CS tại các quốc gia tự do. Hai quốc gia Á Châu có vận động hành lang
(lobby) mạnh mẽ với chính giới Hoa Kỳ là Đài Loan và Nam Hàn. Nhờ
đó, họ duy trì được vị thế chiến lược đến ngày nay.
(15) Ý
Thức Hệ cộng sản đặt căn bản trên duy vật biện chứng.
(a) Mục
đích của cộng sản Quốc Tế nhằm lật đổ chính quyền tư bản, lấy giải
thoát giai cấp vô sản làm cứu cánh và kỳ vọng đạo binh vô sản thế
giới kết hợp để tiêu diệt tư bản vì lịch sử thế giới là lịch sử của
giai cấp đấu tranh, biểu tượng là cuộc cách mạng vô sản tháng 10,
1917 lật đổ triều đại Nga Hoàng Tsar Nicholas II.
Để thực
hiện các mục tiêu nêu trên, nhà cầm quyền CS tẩy não cán bộ khỏi
vướng bận bởi những ràng buộc của nền văn hoá dân gian bằng cách
triệt tiêu các chướng ngại vật như liên hệ thân tộc, tình yêu tổ
quốc, và tín ngưỡng.
Đối với các quốc gia chậm tiến, CS khủng
bố, sát hại những thành phần chống đối, gán cho họ là những thành
phần phản động, nhưng CS thất bại khi đối đầu với các quốc gia văn
minh tiến bộ, ý thức hệ cộng sản thất bại vì đi ngược trào lưu tiến
hoá của nhân loại. "Sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết và các nhà nước
chư hầu Đông Âu, cùng với sự lu mờ của chủ nghĩa xã hội Trung Quốc
hướng theo chủ nghĩa tư bản nhà nước, đã làm tổn thương nghiêm trọng
cả lý thuyết và thực tiễn pháp lý của chủ nghĩa Marxism – The
collapse of the Soviet Union and it satellite state of Eastern
Europe along with the eclipse Chinese socialism by state capitalism
has gravely wounded both Marxist legal theory and practice".
[Raymond Wacks]
(b) Thực ra, không hề có tự do, hạnh phúc,
thực sự trong một xã hội nếu chính quyền không tôn trọng luân thường
đạo lý. "Liberty does not exist in the absence of morality". Chủ
nghĩa cộng sản chủ trương vô luân thường đạo lý với chính sách "Tam
Vô".
– Vô gia đình: CS xoá bỏ đơn vị căn bản của cơ cấu xã
hội là gia đình, khuyến khích con cái đấu tố cha mẹ, triệt tiêu liên
hệ thân tộc;
– Vô Tổ quốc: Cộng sản chủ trương xóa bỏ biên
giới quốc gia để hòa mình vào thế giới vô sản đại đồng. Hồ Chí Minh
chủ trương chiến đấu cho đến người Việt cuối cùng. Không phải vì sự
sinh tồn giống tộc Việt Nam, mà đem xương máu dân Việt chiến đấu cho
chủ nghĩa CS quốc tế.
– Vô Tôn giáo: CS chủ trương tôn giáo
là thuốc phiện mê hoặc lòng người với những giáo điều trái ngược với
chủ trương vô thần của cộng sản.
(c) Gia đình là căn bản của
xã hội. Xã hội là cộng đồng chung sống giữa người với người trên hai
phương diện tình và lý. Tổ quốc là nơi dung thân của cả một dân tộc
với nền văn hóa, lịch sử truyền thống. Văn hóa, tín ngưỡng dân gian
là linh hồn của dân tộc. Cộng sản hô hào tranh đấu cho tự do. Cái tự
do trong ngục tù cộng sản, chứ không phải cái tự do mà Tạo hóa đã
ban cho nhân loại khi mới chào đời. Tự do mà Tạo hóa ban cho con
người là tự do chân chính.
Cộng sản theo duy vật biện chứng
(dialectical materialism) quan niệm con người chỉ là sản phẩm của sự
chọn lọc thiên nhiên (product of natural selection), như các lãnh
giới khoáng vật, thực vật hay muôn thú khác. Đảng viên CS được đào
luyện, nuôi ảo tưởng tự cho mình thuộc giai cấp đỉnh cao trí tuệ,
nhưng thực sự đa số thiếu trình độ hiểu biết về thực chất của chủ
nghĩa CS. Nhận xét này được thể hiện phần nào qua lời chứng được ghi
nhận trong vụ án được trích dẫn để cảnh giác những người ăn cơm quốc
gia thờ ma cộng sản. Trong vụ án Flemming v. Nestor 363.U.S. 603
(1960). Sở An Sinh Xã Hội chấm dứt trợ cấp An Sinh Xã hội cho
Nestor, vì sở Di Trú khám phá ra Nestor đã gia nhập đảng cộng sản
Bulgaria và trục xuất Nestor khỏi Hoa Kỳ. "Nestor, an alien, became
eligible for Social Security payments in 1955. In July 1956 he was
deported for having been a member of the Communist Party from 1933
to 1939... he passionately espoused the cause of Communism [but] he
didn't know too much about it... Nonetheless, the federal government
deported him in 1956 for his brief Communist Party membership."
36. Hiện nay, có khoảng 8,000 người Việt cư ngụ trái phép tại
Hoa Kỳ (Unauthorized Vietnamese). Theo tài liệu đính kèm một số cư
dân Việt, nạn nhân của chế độ CS đi tìm tự do, nhưng không may đã vi
phạm luật lệ, đã và đang chờ ngày hồi hương. "As of December 2017,
there were more than 8,600 Vietnamese nationals residing in the
United States subject to a final order of removal, 7,821 of who have
criminal convictions, according to ICE. As of April 12, ICE has
removed 76 Vietnamese nationals to Vietnam in fiscal year 2018 and
had 156 Vietnamese nationals in detention".
Đây là những
trường hợp đáng thương tâm, cần có chương trình chấn hưng nền đạo lý
xã hội vì luật pháp Hoa Kỳ cũng như các nước có người Việt cư ngụ
thì cứng rắn (Lex dura sed lex– La loi est dure mais c'est la loi –
a harsh law, but a law) để bảo vệ an sinh cho xã hội.
Tạm
kết:
Thần quyền và Thiên luật thể hiện Ý Trời, hiện hữu. Điều
dân chúng ước ao thì Trời cũng chiều theo. "Dân chi sở dục, Thiên
tất tòng chi", kể cả vấn đề tín ngưỡng "Không phải các con chọn Thầy
mà chính Thầy đã chọn các con" nói lên cơ duyên sớm hay muộn dành
cho mỗi người. "Sinh tử hữu mệnh, phú quý tại Thiên".
Thiên
ân là niềm hy vọng chung cho nhân thế trông chờ, nhất là mỗi khi gặp
tai ương khốn khó:
"Trời đâu riêng khó cho ta mãi.
Vinh
nhục dù ai cũng một lần". [Nguyễn Công Trứ]
Hơn 190 quốc gia
trông cậy vào công lý, nhân quyền, những đạo lý từ Trời mà ra cũng
từ lòng người hưởng ứng mà đến trong trạng thái "Thiên nhân hợp
nhất", nhằm duy trì sự trường tồn và những gì tốt đẹp nhất cho nhân
loại trong trật tự luân lý của vũ trụ.
Đồng thời Thế quyền và
Nhân luật để duy trì an ninh, trật tự cho cộng đồng chung sống giữa
người và người trên hai bình diện tình và lý trong tinh thần tứ hải
giai huynh đệ, tôn trọng tự do, dân chủ, tương thân, tương ái.
"Anh em bốn bể là nhà
Người dưng khác tộc vẫn là anh em".
Xin Ơn Trên phù hộ chúng ta.
Trần Xuân Thời
"Văn Dĩ Tải Đạo – Truyền Nhi Bất tác – Tri Hành Hợp nhất"
Với người có đức tin, không cần giải thích. Với người không có đức tin, không thể giải thích
được. Chúng ta phải yêu mến cả hai, những người có cùng quan điểm
với chúng ta và những người không có cùng quan điểm với chúng ta, vì
cả hai đều đã lao lực đi tìm kiếm sự thực, và cả hai đều đã giúp
chúng ta tìm ra chân lý đó. "To one who has faith, no explanation is
necessary. To one without faith, no explanation is possible. We must
love them both, those whose opinions we share and those whose
opinions we reject, for both have labored in the search for truth,
and both have helped us in finding it." [St. Thomas Aquinas
1225–1274]

Tác giả ghi chú:

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)

thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch


|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by trần xuân thời chuyển
Đăng ngày thứ Hai, October 12, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH