
Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam
Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận
Tạp Ghi
Chủ đề: mái trường xưa
Tác giả: Trần Xuân Thời

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)
Các trường
trung học thường mang tên một danh nhân như Taberd,
Pellerin, Puginier, Pétrus Ký, Chu Văn An, Trưng Vương, Gia
Long... nhưng đặc biệt một ngôi trường tọa lạc tại đất thần
kinh, biểu tượng cho nền giáo dục quốc gia mệnh danh là Pháp
Tự Quốc Học Đường. Trường Quốc Học sánh với danh xưng "Quốc
Học Viện" vào đời nhà Trần.
Quốc học, trường trung
học đầu tiên của Việt Nam, được thành lập ngày 23 tháng 10
năm 1896 năm Vua Thành Thái thứ 8. Tên trường "Quốc Học"
cũng thăng trầm theo vận nước nổi trôi. Năm 1907, chính phủ
bảo hộ Pháp đã ép Vua Thành Thái thoái vị và phong Vua Duy
Tân lên kế vị. Năm 1916 Vua Duy Tân bỏ kinh thành theo nghĩa
quân kháng chiến chống Pháp. Người Pháp phong Vua Khải Định
kế vị Vua Duy Tân. Vua Khải Định băng hà năm 1925. Vua
Bảo Đại nối ngôi và muốn vinh danh tiên đế nên đổi tên
trường Quốc học thành trường Khải Định. Sau năm 1954 trường được
đổi tên là Trường Ngô Đình Diệm, nhưng đến năm 1956, dưới
thời Đệ Nhất Cộng Hòa, châu lại về hiệp phố, danh xưng
Quốc
Học lại trở về với mái trường xưa.

Quốc Học đã đào
tạo biết bao nhiêu nam thanh nữ tú phục vụ trong mọi ngành
sinh hoạt của quốc gia. Năm nay, lễ kỷ niệm 130 năm
(1896–2026) Quốc Học không những sẽ diễn ra tại miền sông
Hương núi Ngự, chốn cố đô nghiêm mật mơ màng mà sẽ được cử
hành khắp năm châu bốn bể vì ngày nay đâu đâu cũng in hình
dấu vết của cựu học sinh Quốc Học.
Nếu quan niệm gặp
nhau là một cơ duyên, vào chung trường, ngồi chung lớp là
một sự tiến bộ và cùng tốt nghiệp ra trường là một sự thành
công thì những cựu học sinh tốt nghiệp Quốc Học đều đã công
thành danh toại.
Tôi còn nhớ vào năm 1958, khoảng
cuối hè và đầu thu, tôi nạp đơn vào lớp Đệ Tam Quốc Học. Như
truyền thống đã định tất cả ứng viên phải trải qua một kỳ
thi nhập học. Tôi không nhớ đã thi những môn gì nhưng đây là
một loại "contest/concours" đã loại một số học sinh không
được nhận vào ngôi trường nổi tiếng này.
Năm Đệ Tam
là năm học tà tà, dưỡng sức cho năm đệ nhị chuẩn bị xông pha
trường thi trận bút. Năm Đệ nhị "tình hình chiến sự" có vẻ
gay cấn hơn, chẳng những phải "gạo" bài cho đệ nhất và đệ
nhị lục cá nguyệt mà còn phải học kỳ cho kỳ thi Tú tài I
cuối năm. Thường thường tôi dùng 2/3 thì giờ để học bài thầy
giảng trong chương trình và 1/3 đọc thêm những gì không được
giảng dạy nhưng có liên quan đến chương trình như thế sẽ
khỏi bỡ ngỡ khi đề thi liên hệ đến kiến thức tổng quát. Cũng
theo cách học này mà tôi trúng tuyển dễ dàng hai kỳ Tú tài I
và II.
Đã khá lâu nên không nhớ rõ hết các đề thi,
duy chỉ có hai đề thi có phần lý thú nên khó quên. Đó là đề
thi Tú Tài I–1960 về văn chương VN "Con người do ba (3) yếu
tố tạo thành: Địa phương, giống tộc, và thời đại, bạn hãy
căn cứ vào văn chương thế kỷ thứ XIX để chứng minh câu nói
trên". Đề thi này phỏng theo đề thi "Dissertation
littéraire", kỳ thi BAC I tại Paris, thập niên 1950, về văn
chương Pháp, thế kỷ thứ XIX mà tôi đã có dịp đọc qua luận
văn bằng Pháp ngữ, chỉ khác là thay vì luận về văn chương
Pháp thì luận về văn chương Việt Nam thế kỷ thứ XIX. Nền
giáo dục Tậy phương có ưu điểm là thường in lại các đề thi
và bài giải về văn học, triết học cũng như toán học... khoa
học của các kỳ thi trong quá khứ để giúp học sinh tự luyện
thi. Nền giáo dục Việt Nam thời bấy giờ chưa đạt đến trình
độ đó.
Khi còn học lớp Đệ Tứ, tôi và vài người bạn
khác như thường mở các đề toán Géométrie và Algèbre trong
sách hoc trò (Livre de LÉlève) ra làm thử. Bài nào không
giải được thì mở sách của thầy (Livre du Maitre) ra xem bài
giải. Cứ như thế mà giải hết các bài trong sách của Gs Bossé
thì rất dễ dàng giải quyết các nan đề trong phòng thi.
Đề thi triết Tú tài 2/1961 cũng rất gọn gàng và dễ nhớ
"Vai trò của trí tuệ trong tri giác ngoại giới". Trong cả
hai trường hợp, đọc qua đề thi thì hình như dàn bài đã có
sẵn trong trí, tôi viết một mạch 3 giờ liền, đọc lại và nạp
bài, ra khỏi phòng thi, thấy rất thoải mái vì chẳng những
không "bí" mà còn viết thao thao bất tuyệt, tự biết thế nào
cũng "dính".
Tuy vậy, những lần đi nghe xướng danh
cũng rất hồi hộp. Cái hồi hộp lý thú của tuổi học trò. Những
năm học ở trung học thi cử liên miên khiến cho học sinh phải
lo âu thường trực. Càng lo âu thì càng dễ trở nên thất vọng.
Có người không chịu nổi cái "đệ nhất buồn là cái hỏng thi"
nên phải quyên sinh. Học chế của mình kể ra cũng khắt khe.
Cô, thầy thì nghiêm khắc vì "Giáo bất nghiêm thì sư chi
đọa". Bài vở phần lớn học thuộc lòng, vận dụng trí nhớ nhiều
hơn suy luận. Chúng ta thường nghe nói: "gạo như gạo vạn
vật..."
Bây giờ thì tất quả đều quá vãng, có còn lại
chăng chỉ dư âm thôi!
"Thôi đã xa rồi vạn gót
hương
Của người đẹp đến tự muôn phương
Xa rồi những
bước không hò hẹn
Đã bước trùng nhau một nẻo đường."
Nẻo đường Quốc Học của thời niên thiếu vẫn luôn luôn
chập chờn trong trí tưởng với hình ảnh của con sông xưa,
thành phố cũ.
"Áo em lụa trắng sông Hương
Qua
đò Thừa Phủ nhớ thương rạt rào."
Nỗi nhớ, niềm
thương đó vẫn canh cánh bên lòng như bản nhạc vàng ru trọn
đời mình. Dù vì quốc biến nên "Có những người đi không về.
Xa xôi rồi quên ước thề"!
Hoài niệm về trường xưa,
bạn cũ không chỉ là hoài niệm đơn thuần tình cảm mà còn tiềm
ẩn tinh tuý của Quốc học là những gì lưu lại sau khi đã quên
hết "La culture (de QH) cest ce qui reste après on a tout
oublié". Xuất thân từ Quốc Học cũng như xuất thân từ cửa
Khổng sân Trình. Con người hấp thụ được tinh hoa của cổ và
tân học. Nếu con người do ba yếu tố tạo thành: Hoàn cảnh,
Thời đại, và Giống tộc thì Quốc học đã là hoàn cảnh, là môi
trường tốt cho cựu học sinh triển nở, khiến cho nam thanh,
nữ tú hàng hàng lớp lớp từ thế hệ này sang thế hệ khác xuất
thân từ ngôi trường thân thương này và đã trở thành biết bao
anh tài cho Tổ quốc. Cái tinh hoa của nền Quốc Học là ngoài
khả năng, kiến thức tổng quát, cựu học sinh được bồi dưỡng
tinh thần bằng niềm hãnh diện về trường xưa, bạn cũ, và quan
niệm về giáo dục qua phong cách giảng dạy, lối sống, và
triết lý giáo dục của nền quốc học Việt mà một vị Nho sĩ, Cụ
cố Ngô Đình Khả, đã được bổ nhiệm nhậm chức Chưởng Giáo đầu
tiên của Quốc Học.
Triết lý giáo dục nhân bản nhằm
chủ đích không những làm cho con người giỏi giang hơn (trí
dục) mà còn làm cho con người sống cao thượng hơn (đức dục).
Ngày nay học tập để ngày mai giúp đời. Giúp đời chứ không
chỉ biết vinh thân phì gia. Nguyễn Du Tiên sinh rất hữu lý
khi nói lên triết lý hành động qua lời Từ Hải:
"Phong
trần mài một lưỡi gươm.
Những loài giá áo túi cơm sá gì".
Lưỡi gươm đây còn mang ý nghĩa là đem sở học và sự hiểu
biết để phụng sự nhân quần xã hội, sửa trị những sự việc
trong xã hội cho chính trực như tinh thần Nguyễn Công Trứ.
"Trong lăng miếu ra tài lương đống.
Ngoài biên
thùy rạch mũi can tương".
Lợi ích của sự giáo
dục là để phát triển kiến thức về luân thường đạo lý (đức
dục) và kiến thức chuyên môn (trí dục). Nền quốc học chủ
trương "Tiên học lễ hậu học văn" chú trọng đến sự phát triển
con người toàn diện về cả ba khía cạnh đức dục, trí dục, và
thể dục, cốt đào tạo những người có đức hạnh, trí óc sáng
suốt, có liêm sỉ, để cải tạo xã hội chính trị, hơn là chỉ
chú trọng đào tạo những người có kiến thức chuyên môn như
nền giáo dục Tây phương.
Nhận chân được khuyết điểm
là có khoa học mà vô lương tâm chỉ đem lại phiền não, bại
hoại tâm hồn. "Science sans conscience nest que ruine de
lâme", ngày nay nhiều đại học ở Tây phương tìm cách nhân văn
hóa các chương trình khoa học bằng cách đưa các môn triết
học, nhân chủng, xã hội, đạo đức, tâm lý... vào khóa học để
giúp sinh viên tốt nghiệp sẽ trở nên con người toàn diện, có
thêm kiến thức tổng quát (general education) hiểu người,
biết mình hơn chỉ là con người kỹ thuật, máy móc (robot).
Sự học tô điểm cuộc đời, giúp chúng ta khám phá những kỳ
hoa dị thảo trong vườn hoa kiến thức của nhân loại. Càng
hiểu biết con người càng trầm tĩnh, ít lo âu, ít hoảng hốt,
tâm bớt động, và nhờ đó thái độ được trầm tĩnh và tránh đuợc
lầm lẫn hay sợ sệt:
(1) Ít lo âu vì nhận diện được
vấn đề và biết cách ứng phó đúng với câu "Khi vui đến thì
hãy vui mà chớ kiêu căng, tự phụ, khi tai họa đến thì phải
suy nghĩ mà chớ buồn phiền". Chính nhờ sự suy nghĩ mới có
thể mưu sinh thoát hiểm thay vì buồn phiền sẽ sinh ra nản
chí và thất hại.
(2) Tránh được lầm lẫn là nhờ khả
năng nhận biết phải trái, phân rõ trắng đen qua kinh nghiệm
giải quyết sự việc của tiền nhân và của người đương thời.
Ngày nay khoa quản trị học (management science) đào tạo
những chuyên viên quản trị biết kỹ thuật tổ chức, điều hành,
và phương pháp giải quyết vấn đề. Tiêu chuẩn phán xét phải,
trái, không hẳn do ý kiến của một cá nhân, vì ý kiến cá nhân
có khi lầm lẫn. Do đó ý kiến đúng hay sai phải là ý kiến của
đa số trong một hoàn cảnh và thời gian nào đó. Tiêu chuẩn
đúng sai do đa số quyết định "What is right or wrong being
determined by the will of the majority" (John Locke,
Treatises on Civil Government – 1679). Ý kiến của đa số hay
là ý chí chung có thể được tham khảo qua nhiều phương thức
hoặc do phong tục tập quán lấy ý kiến chung ở chốn đình
trung, hoặc do biểu quyết, hay trưng cầu dân ý qua lá phiếu.
(3) Ít sợ sệt vì hiểu được vấn đề, không lo ngại, và
chấp nhận dấn thân mà không e dè sợ sệt, hùng tâm dũng chí.
Nho giáo giúp con người trưởng thành về trí tuệ bằng kiến
thức xuyên thế hệ (transgenerational), kinh nghiệm cổ nhân
lưu lại qua sử sách.
Với ba đặc điểm ít lo âu, tránh
lầm lẫn, ít sợ sệt; người khôn ngoan thường nhận xét sự việc
một cách khách quan, theo lẽ phải hơn là thiên kiến. Để đạt
đến tính cách khách quan, sự nhận xét phải có tính cách
vô ý, vô tất, vô cố, và vô ngã:
(1) Vô ý:
không khư khư theo ý riêng của mình mà phải chấp nhận bàn
bạc để tìm ra lẽ phải và làm theo lẽ phải để tạo sự đồng
thuận trước khi thi hành công tác. "Discussion is the anvil
upon which the spark of the truth is struck". Tiếp xúc cá
nhân, chia sẻ, và đối thoại là phương thức để tìm ra lẽ
phải.
(2) Vô tất: Đừng vội quyết
đoán là công việc làm được hay không làm được mà phải tạo cơ
hội để thực hiện mới biết dễ hay khó. Không nên chủ quan bác
bỏ ý kiến của người khác theo nhãn quan thiển cận của mình
mà phải biết chấp nhận thử thách.
(3) Vô cố:
Không nên cố chấp, nệ cổ mà phải biết chấp nhận sáng kiến.
(4) Vô ngã: Cái tôi là đáng ghét (le
moi est haissable) đừng vì quyền lợi cá nhân hay phe phái mà
sinh ra mù quáng, nhìn bạn thành thù, nhìn thù thành bạn,
lộng chân thành giả, lộng giả thành chân.
Bốn phương
cách xét định công việc nêu trên giúp chúng ta đạt được sự
chánh ý trong vấn đề suy luận và phát biểu nhằm giảm sự xung
khắc về tư tưởng và hành động. Dụng đích của sự học không
những để gia tăng sự hiểu biết mà còn giúp phát triển các
đức tính khác như Đức Khổng Tử đã giáng cho Tử Lộ sáu điều
tai hại của sự thất học:
(1) Người ham điều nhân mà
không học thì bị cái hại là ngu muội.
(2) Người ham
đức trí mà không học bị cái hại là phóng đãng.
(3)
Người trọng chữ tín mà không học thì có hại là dễ bị lừa
gạt.
(4) Người thích sự ngay thẳng mà không học thì
hóa ra nóng nảy.
(5) Người dũng cảm mà không học thì
hoá ra phản loạn.
(6) Người cương quyết mà không học
thì hóa ra cường bạo.
Giáo dục không chỉ là học từ
chương trích cú để lãnh được mảnh bằng theo sách vở mà phải
biết suy luận, áp dụng kiến thức vào những hoàn cảnh khác
nhau vì mỗi hoàn cảnh đòi hỏi một phương cách riêng để giải
quyết vấn đề. Do đó "tri và hành phải hợp nhất". Học mà
không biết đem sự hiểu biết áp dụng vào đời sống thì kiến
thức đó hoàn toàn vô dụng, cho nên Luận Ngữ có câu:
"Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ".
Học mà đem ra áp dụng được thì chẳng phải vui lắm sao!
Tham gia chiến trận khi quốc gia lâm nguy, thực hiện các
công tác sinh hoạt xã hội, chính trị, văn hoá, kinh tế, y
tế, giáo dục khi thái bình... đều là những cơ hội học hỏi
chứ không phải chỉ đến nhà trường mới gọi là học. Theo thầy
Tử Lộ thì "Cai trị nhân dân, cúng tế thần đất đai, mùa màng,
thì cũng là học, hà tất phải đọc sách rồi mới gọi là học".
Quan niệm này rất hữu lý và tiến bộ vì ngoài lối học sách
vở, còn phương pháp huấn luyện OJT (On the job training)
ngày nay rất thịnh hành tại các nước tân tiến.
Muốn học hỏi trước tiên phải:
(1)
Khiêm nhường và phục thiện. Những người kiêu căng, chỉ biết
nói và không biết nghe thì không học hỏi gì được. Khiêm
nhường tức là hỏi người dưới không lấy làm thẹn "Bất sỉ hạ
vấn".
(2) Có thiện chí tìm hiểu hỏi han. Đức Khổng Tử
nói: "Người nào không hỏi phải làm sao? phải làm sao? thì ta
cũng chẳng có cách nào chỉ bảo cho được. Kẻ nào không hăng
hái muốn hiểu thì ta không thể giúp cho hiểu được, kẻ nào
không tỏ ý kiến thì ta không thể giúp cho phát biểu ý kiến
được. Ta vén lên cho một góc mà chẳng tự tìm được ba góc kia
thì ta không giảng cho thêm nữa".
Thế thì giáo huấn
cũng còn tùy người, tùy tánh nết, tùy trí tuệ, tư cách của
mỗi nguời, cũng như may áo, tùy kích thước của mỗi người.
Cưỡng bách giáo dục tại một số quốc gia tân tiến thường đến
lớp 9 (đệ tứ) hoặc lớp 12 (đệ nhất) phần học còn lại là do
thiện chí muốn tiếp tục sự học. Phương pháp giáo huấn tùy
người có từ trên 2000 năm về trước, ngày nay nhiều đại học
đang áp dụng các chương trình giáo dục "University without
wall" và các chương trình "Non–traditional" tức là cá nhân
hóa chương trình cho phù hợp với sở trường thực dụng của mỗi
cá nhân. Con nguời được thọ tạo như những viên ngọc quý.
Nhưng ngọc bất trác thì bất thành khí, hay như những cây gỗ
quý, nhưng nếu không biết trau dồi học hỏi thì gỗ quý sẽ
biến thành gỗ mục, mà "Gỗ mục thì không chạm khắc gì được,
cũng như vách bằng đất bùn thì không tô vẽ gì lên được".
Phương pháp học hỏi hữu hiệu là vận dụng tri giác (thu
nhận kiến thức qua giác quan – perception) mà nghe và thấy
là hai giác năng quan trọng nhất giúp con người thu nhận
ngoại giới. Do đó, cổ nhân khuyên là "Nên nghe cho nhiều,
điều gì còn nghi ngờ thì để đó, tìm hiểu thêm. Điều gì biết
rõ ràng, chắc chắn thì nên nói, nhưng nên nói một cách ôn
tồn." và "Nên thấy cho nhiều, những gì chưa được rõ thì để
đó đừng làm, còn những gì biết rõ thì cũng phải làm một cách
cẩn thận như vậy sẽ ít phải ăn năn".
Trong
thiên hạ thường có 4 hạng người:
(1) Không
ai dạy mà biết được đạo lý là hạng ưu tú – Sinh nhi tri chi
giả, thượng dã – Đó là hạng người thông minh vốn sẵn tính
trời, là hạng ưu việt.
(2) Học rồi mới biết là hạng
trung – Học nhi tri chi giả, thứ dã – gồm đa số khoa bảng,
chuyên viên.
(3) Dốt mà chịu học là bậc thấp – Khốn
nhi học chi, hữu kỳ thứ dã – là những thành phần hiếu học để
thăng tiến.
(4) Dốt mà không chịu học là hạng cuối
cùng của xã hội – Khốn nhi bất học, dân tư vĩ hạ hỉ – Hạng
thứ tư này đa số bất cần đời, sinh lộn kiếp. "Cũng liều nhắm
mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu?"
Tại Hoa Kỳ nguời ta cũng thường đề cập đến ba hạng
chuyên viên:
(1) Hạng chuyên viên ưu tú
thường nêu ra sáng kiến, phát minh. "Professionals with
great minds talk about ideas"
(2) Hạng chuyên viên
trung bình thường bàn về những chuyện đang xảy ra
"Professionals with average minds talk about current
events"; và
(3)– Hạng chuyên viên thường hay bàn
chuyện người khác." Professionals with small minds talk
about people".
Dù thuộc loại chuyên viên nào
chăng nữa, trong một ngày mình nên xét ba điều:
(1) Mình giúp ai việc gì, có giúp hết lòng không?
(2) Mình giao du với bạn bè có giữ được chữ tín không?
(3) Mình có học hỏi thêm điều gì mới mẻ trong ngày
không?
"Mỗi ngày biết thêm điều mình chưa biết, mỗi
tháng không quên những điều mình đã biết như vậy là biết học
rồi đó". Nhưng cũng nên biết rằng "Biết học không bằng ham
học và ham học không bằng vui mà học". "Nếu mình yêu thích
công việc mình làm, thì xem như cả đời không làm gì hết"!
Diễn trình giáo dục là diễn trình thu nhận kiến thức,
tinh luyện suy luận, và phát triển sáng tạo. Tuy vậy, đó chỉ
mới là giai đoạn đầu hay nói khác đi là giai đoạn "cách vật
chí tri", hiểu biết sự việc ngoại giới mà chứng chỉ, bằng
cấp là biểu tượng cho giai đoạn này. Nếu đến giai đoạn này
rồi tự thõa mãn và ngưng học hỏi, tu thân, thì chỉ là hiểu
biết vòng ngoài, nghĩa là mới thu nhận được kiến thức ngoại
giới nhưng chưa đạt đến trình độ "Thành tâm, chánh ý, tu
thân, tề gia, trị quốc, và bình thiên hạ".
Kiến thức
thu nhận được ở nhà trường từ tiểu học đến đại học chỉ là
kiến thức căn bản ai cũng có thể học được miễn có thì giờ và
phương tiện để trở thành chuyên viên. Đó là sự thực, vì nhìn
vào xã hội chúng ta thấy sinh đồ càng ngày càng đông và
trường học càng ngày càng nhiều.
Học để hiểu biết và
hiểu biết hơn về một ngành chuyên môn để trở thành "chuyên
viên" (professional) là điều tốt, nhưng nếu chỉ để mong an
nhàn, sống lâu giàu bền, còn việc nước việc cộng đồng, xã
hội, ái hữu... không thèm nghĩ đến thì chưa đạt đến trình độ
"Trí thức".
Để đào luyện (formation) trí thức, triết
lý giáo dục nhân bản của nền Quốc Học không ngưng lại ở mức
độ thu nhận kiến thức chỉ để trở thành chuyên viên mà còn
tiến đến chủ đích làm cho con người trở nên cao thượng hơn:
"Thượng vị đức, hạ vị dân".
Phối
hợp đạo lý làm người và kiến thức để giúp đời, là dấu chỉ
của người trí thức, của kẻ sĩ. Cụ Nguyễn Công Trứ đã từng
quan niệm:
"Kinh luân khởi tâm thượng,
Binh
giáp tàng hung trung.
Vũ trụ chi giai ngô phận sự.
Nam
nhi đáo thử thị hào hùng".
Khi quốc gia hưng
vong, thất phu hữu trách. Kẻ sĩ không phải là hạng người
ngồi khoanh tay khi sơn hà nguy biến!
Phải chăng Quốc
Học là trường xây dựng nền tảng cho nền Việt học, phối trí
giữa kiến thức và tâm đạo. Kiến thức có thể diễn tả qua tư
tưởng, kỹ thuật, phương trình, công thức... còn tâm đạo được
thể hiện qua tinh thần đạo đức, lương tâm chức nghiệp của
quý Thầy, quý Cô.
"Kỳ thân chính, bất lệnh nhi hành".
Với lương tâm chính trực, tận tụy của quý Thầy, quý Cô, học
sinh đương nhiên vì mến Thầy, thương Cô mà học không phải vì
Thầy la, Cô mắng.
Một khi xuất thân từ Quốc Học, học
sinh đều thành danh phụng sự xã hội với tinh thần Nhân, Trí,
Dũng: Phối hợp được lòng nhân ái, tâm đạo, kiến thức, và
nghị lực, quả cảm để xây dựng cộng đồng xã hội, quốc gia dân
tộc.
Dù tha hương, sống nơi góc bể chân trời, nhưng
đến ngày kỷ niệm Quốc học năm thứ 130 (1896–2026) chúng ta
vẫn hướng về mái trường thân thương nơi con sông xưa thành
phố cũ, ngâm khúc hoan ca:
"Trường xưa lưu mãi
bóng hình.
Trăm năm Quốc Học hiển vinh muôn đời".

Trần Xuân Thời

bấm vào đây để in ra giấy (print pdf)


thiên sứ micae – thánh bổn mạng sđnd qlvnch

|
|

hình nền: thắng cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Để xem được trang web này một cách hoàn hảo, máy của bạn cần được trang bị chương trình Microsoft Internet Explorer (MSIE) Ấn bản 9 hay cao hơn hoặc những chương trình Web Browsers làm việc được với HTML–5 hay cao hơn.
nguồn: internet eMail by trần xuân thời chuyển.
Đăng ngày thứ Tư, October 14, 2026
tkd. Khoá 10A–72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH